Nước Đức giữa hai làn đạn Mỹ-Trung

Thủ tướng Đức Angela Merkel – người phụ nữ quyền lực nhất châu Âu – không ngờ trong những tháng ngày cuối của cuộc đời chính trị, bà lại phải trả lời một câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản mà vô cùng khó: có nên cho tập đoàn công nghệ Huawei của Trung Quốc tham gia xây dựng mạng viễn thông thế hệ thứ 5 (5G) của Đức hay không?

“Nên” hay “không nên” – đó mới là vấn đề

Hơn một năm qua, chính trường Đức chia rẽ sâu sắc chung quanh câu hỏi này: với các doanh nghiệp – nhất là các nhà sản xuất xe hơi nổi tiếng của Đức, thì câu trả lời là “nên”, ngược lại các cơ quan tình báo, ngoại giao và quốc phòng thì trả lời “không nên”. Ngay trong đảng Dân chủ Thiên chúa (CDP) giáo cầm quyền của bà Merkel cũng có sự trái ngược giữa câu trả lời “nên” của giới lãnh đạo đảng, và “không nên” từ các nghị sĩ của đảng.

Quyết định của Đức về Huawei cũng sẽ định hình mối quan hệ giữa Đức với Trung Quốc trong nhiều năm sắp tới, ảnh hưởng tới khối lục địa châu Âu và cả mối quan hệ thiết yếu với Hoa Kỳ cho nên chính phủ Đức không thể đưa ra kết luận một cách vội vàng. Quốc hội Đức đã mất nhiều tháng tranh luận về đề tài này nhưng chưa đi đến đâu, dự tính sẽ tiếp tục tranh luận trong vài tuần tới nữa. Hôm thứ Năm 16-01-2020 bà Merkel đã triệu tập cuộc họp với các nghị sĩ thuộc đảng CDP của bà và thúc giục họ nhanh chóng tìm ra một giải pháp để hóa giải mâu thuẫn; cho đến nay quan điểm của bà Merkel là không chấp nhận việc cấm đoán công ty Trung Quốc mà phải có biện pháp kiểm soát thích hợp.

Tình hình càng cấp bách khi chính phủ Mỹ của Tổng thống Donald Trump đã nhiều lần thúc hối các nước đồng minh “không hợp tác” với Huawei vì cho rằng công ty công nghệ này là “Con ngựa thành Troy” giúp cho chính phủ Trung Quốc do thám và kiểm soát mạng viễn thông châu Âu và cả Hoa Kỳ nữa. Ông Trump thậm chí đe dọa sẽ chấm dứt sự hợp tác, chia sẻ về tình báo và an ninh với bất cứ nước nào chấp nhận cho Huawei thiết lập mạng 5G vì lo ngại các thông tin tình báo sẽ bí mật chuyển tới Bắc Kinh. “Phương Tây [gồm cả Mỹ và châu Âu] phải có một giải pháp chung cho vấn đề mạng 5G bởi vì chúng ta nhìn thế giới theo cùng một cách,” Đại sứ Hoa Kỳ tại Đức, ông Richard Grenell, phát biểu hôm thứ Năm 16-01 vừa qua, theo New York Times.

Điểm yếu: xe hơi Đức

Trong vấn đề Huawei, nước Đức khó khăn hơn nhiều so với các nước châu Âu khác như Pháp, bởi vì kinh tế Đức gắn bó quá chặt với thị trường khổng lồ của Trung Quốc – thành quả nhiều năm cầm quyền của bà Angela Merkel. Trung Quốc là thị trường lớn nhất mang lại tăng trưởng cho các nhà sản xuất xe hơi chính của Đức, nơi mà các dòng xe BMW, Daimler-Mercedes và Volkswagen chiếm vai trò thống trị phân khúc xe hơi hạng sang. Năm 2019 mặc dù thị trường xe hơi Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, các hãng xe Đức như Volkswagen, Daimler và BMW vẫn tiếp tục đạt được doanh số kỷ lục, giành bớt thị phần của các hãng Ford, GM và Toyota.

Theo giới công nghệ, thị trường Trung Quốc không chỉ tiêu thụ nhiều xe hơi Đức mà còn tác động trở lại các hãng xe; thị hiếu khách hàng và chính sách của chính phủ Bắc Kinh góp phần quyết định mẫu xe nào sẽ được sản xuất, công nghệ nào sẽ được áp dụng. Và từ đó, các hãng xe Đức tăng cường hợp tác với các công ty công nghệ Trung Quốc – chủ yếu là Huawei – để phát triển và thử nghiệm các công nghệ xe hơi mới. Năm 2018, hãng xe Audi – thương hiệu xe sang của Volkswagen, công bố “hợp tác chiến lược” với Huawei để phát triển công nghệ xe hơi tự lái; hãng Daimler – có 9,9% cổ phần thuộc về nhà đầu tư Trung Quốc Lý Thư Phúc (Li Shufu) sử dụng công nghệ máy tính của Huawei trong xe Mercedes; còn BMW và một số đối tác khác hợp tác với Huawei về nghiên cứu và phát triển. Volkswagen là trường hợp nổi bật nhất: hơn một nửa doanh thu bán hàng của hãng này đến từ thị trường Trung Quốc, nơi Volkswagen chiếm tới 14% thị trường xe hơi. “Nếu chúng tôi rút ra” khỏi Trung Quốc, “thì sẽ có từ 10.000 đến 20.000 kỹ sư ở Đức bị mất việc ngay lập tức,” ông Herbert Diess, Giám đốc điều hành Volkswagen nói với báo Wolfsburger Nachrichten của Đức.

Sự phụ thuộc của các hãng xe Đức vào thị trường Trung Quốc đã bị Bắc Kinh “nắm thóp” và sử dụng “các con tin” này để gây sức ép chính trị lên chính phủ Berlin. “Nếu Đức quyết định loại Huawei ra khỏi thị trường Đức thì sẽ có hậu quả. Chính phủ Trung Quốc sẽ không ngồi yên đâu,” Ngô Khẳng (Wu Ken), Đại sứ Trung Quốc tại Berlin cảnh cáo hồi tháng trước. Và ông ta nói bóng gió: “Hãy xem đi, năm ngoái có 28 triệu chiếc xe hơi được bán ra ở Trung Quốc, trong đó có 7 triệu chiếc là xe Đức.” Nghị sĩ Konstantin von Notz, thành viên ủy ban những vấn đề kỹ thuật số của Quốc hội Đức, nói thẳng: “Trung Quốc đã nói rõ họ sẽ trả đũa vào điểm gây tổn thương nặng nhất: ngành xe hơi Đức.”

Ta về ta tắm ao ta!

Trong khi đó mối quan hệ giữa Đức và châu Âu nói chung với Hoa Kỳ đang trải qua không ít thử thách khi Tổng thống Trump nhiều lần đe dọa áp thuế trừng phạt lên xe hơi Đức nhập khẩu vào Mỹ như ông ta đã tăng thuế đánh vào rượu vang Pháp. Nhưng cho dù không thích chính phủ Mỹ của ông Trump, Đức không thể quay lưng với Hoa Kỳ; chỉ riêng việc Washington dọa cắt đứt việc chia sẻ thông tin tình báo đã khiến các cơ quan an ninh của Đức lo lắng, nhất là sau vụ họ phát hiện hôm đầu tuần này ba người Đức, trong đó có một cựu nhân viên ngoại giao, làm gián điệp cho Bắc Kinh nhiều năm qua.

Vả lại, cáo buộc của Hoa Kỳ đối với Huawei được nhiều chính trị gia Đức tán đồng ở chỗ đây là một tập đoàn được chính phủ Bắc Kinh hậu thuẫn mạnh. Đại hội thường niên của đảng CDP cầm quyền hồi tháng 11 đã không đồng ý cho tập đoàn Huawei làm công ty tài trợ và thông qua một bản kiến nghị, yêu cầu chỉ cho phép những doanh nghiệp chứng minh được mình đã hoàn thành các quy định về an toàn mới được tham gia tài trợ; một trong những quy định đó là không có sự can thiệp của chính phủ. Tuy không nhắc tới tên của Huawei nhưng kiến nghị rõ ràng nhắm tới tập đoàn này.

Norbert Rottgen, một nhà lập pháp bảo thủ, người phản đối chính sách đối với Huawei của Thủ tướng Merkel, và cũng là đồng tác giả của kiến nghị nói trên, nói rằng: “Theo luật Trung Quốc, các công ty có nhiệm vụ hợp tác với Sở Mật vụ Trung Quốc. Khi giao dịch với Huawei, bạn sẽ phải chấp nhận rằng bạn có thể liên can tới đảng Cộng sản Trung Quốc.”

Bên cạnh mối lo sợ về gián điệp và phá hoại, các nhà lập pháp Đức còn lo ngại rằng, nếu cho phép Huawei tham gia xây dựng mạng 5G, Đức sẽ không chỉ gây xung đột với Washington mà còn có nguy cơ xói mòn khối đoàn kết châu Âu. Thay vì Huawei, họ đề nghị trao hợp đồng mạng 5G cho các doanh nghiệp châu Âu như Nokia (Phần Lan) hoặc Ericsson (Thụy Điển). Hai công ty công nghệ này đã giành được hợp đồng thiết lập mạng 5G ở Đan Mạch và hoàn toàn có thể đảm nhiệm công việc tương tự ở Đức hay Pháp, tuy sẽ mất nhiều thời gian hơn và tốn chi phí cao hơn, một phần do công nghệ của Huawei đã góp phần lớn vào hệ thống viễn thông hiện hành của Đức, việc chuyển đổi công nghệ sẽ tốn kém và phức tạp.

Về mặt chiến lược, việc loại trừ Huawei có lẽ là quyết định tối ưu. “Nếu bạn để cho Huawei xây dựng mạng 5G thì sau một thời gian bạn sẽ không hiểu được hệ thống của chính mình nữa. Và đó là mất mát lớn lao về quyền kiểm soát và chủ quyền quốc gia,” nghị sĩ Rottgen nói.

Những người khác thì không bi quan đến mức đó mà lo ngại cho triển vọng của ngành xe hơi Đức. “Nếu chúng ta cấm Huawei, ngành xe hơi Đức sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường Trung Quốc trong một cảnh huống mà tổng thống Mỹ cũng đe dọa sẽ trừng phạt các nhà sản xuất xe hơi Đức,” ông Sigmar Gabriel, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Đức, than thở.

Câu hỏi nên hay không nên chấp nhận Huawei xem ra sẽ còn làm đau đầu các nhà lãnh đạo Đức một thời gian dài nữa.

Iran rối từ trong ra ngoài

Sinh viên Tehran biểu tình phản đối chính phủ che giấu vụ bắn rơi máy bay hành khách của Ukraine hôm 08-01-2020

Chính phủ Iran hôm nay thứ Ba 14-01-2020 cho biết đã bắt giam những người bị cho là có vai trò trong vụ bắn rơi chiếc phi cơ của hãng hàng không Ukraine, đồng thời bắt giam khoảng 30 người tham gia các cuộc biểu tình phản đối chính phủ kéo dài suốt bốn ngày qua kể từ khi quân đội Iran nhận lỗi gây ra vụ tai nạn thảm khốc đó.

Vụ bắn rơi chiếc máy bay của Ukraine hôm thứ Tư tuần trước làm 176 người thiệt mạng đã gây ra một cuộc khủng hoảng mới cho chính quyền Tehran. Tổng thống Iran, ông Hassan Rouhai, cam kết sẽ có cuộc điều tra rốt ráo về “sai lầm không thể tha thứ” này, nhưng lời hứa của các nhà lãnh đạo Iran đã không làm dịu được cơn phẫn nộ của dân chúng, không biện hộ được tại sao chính phủ Iran giấu nhẹm nguyên nhân tai nạn suốt ba ngày và chỉ thừa nhận sự thật sau khi Ukraine và các nước phương Tây đưa ra những bằng chứng không thể chối cãi.

Hãng tin Fars của lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran cho biết, người đưa lên mạng đoạn video cho thấy một hỏa tiễn quân sự bắn trúng máy bay đã bị lực lượng này bắt giữ. Trong khi đó, hôm nay thứ Ba 14-01, trang web báo The New York Times đăng thêm một đoạn video trích từ camera an ninh cho thấy hai hỏa tiễn, khai hỏa cách nhau 30 giây, đã nhắm trúng mục tiêu ngay sau khi máy bay cất cánh.

Mất niềm tin vào chính phủ và giới tăng lữ cầm quyền, người dân Iran – phần lớn là sinh viên, đã tổ chức xuống đường biểu tình mỗi ngày, đòi công lý và kêu gọi truất phế Giáo chủ Ayatollah Ali Khameini – lãnh tụ tối cao của Cộng hòa Hồi giáo Iran nhưng không do người dân bầu lên, đã cầm quyền hơn 30 năm. Các video trên mạng xã hội cho thấy cảnh sát đã trấn áp người biểu tình, dùng dùi cui và bắn hơi cay, thỉnh thoảng còn nghe tiếng súng nổ. Phát ngôn viên bộ tư pháp Iran nói đã có 30 người biểu tình bị bắt vì “bạo loạn” nhưng không nói rõ chi tiết.

Trước đây hai tháng, vào tháng 11-2019, người dân Iran đã xuống đường rầm rộ phản đối chính quyền cắt trợ giá xăng dầu, khiến giá xăng tăng gấp đôi, gây thêm khó khăn cho cuộc sống của người dân vốn đã khốn khó vì bị Mỹ cấm vận kinh tế. Ở vài nơi, biểu tình biến thành bạo loạn, người dân đốt phá các cây xăng và ngân hàng; cảnh sát đã mạnh tay đàn áp khiến hàng trăm người bị thiệt mạng. Đây được coi là vụ phản kháng lớn nhất mà chính quyền Iran đối mặt kể từ sau cuộc Cách mạng Hồi giáo năm 1979 thiết lập nhà nước thần quyền ở Iran.

* Cũng liên quan tới Iran, hôm nay thứ Ba 14-01-2020, ba nước Anh, Pháp và Đức thống nhất sẽ khởi động cơ chế giải quyết tranh chấp (dispute mechanism) với cáo buộc Iran vi phạm các điều khoản của hiệp ước JCPoA (Joint Comprehensive Plan of Action) ký kết năm 2015 giữa Iran với nhóm cường quốc P5+1 – gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và Đức. Theo JCPoA, Iran sẽ ngừng làm giàu uranium trong 15 năm, đổi lại các biện pháp cấm vận kinh tế của Liên hiệp quốc với Iran sẽ được dỡ bỏ.

Chính quyền của Tổng thống Donald Trump cho rằng, hiệp ước JCPoA ký dưới thời Tổng thống Barack Obama là “quá yếu”; tháng 5-2018, Hoa Kỳ đơn phương rút ra khỏi JCPoA và áp đặt cấm vận kinh tế Iran, gây “sức ép tối đa” để buộc Iran phải đàm phán lại một hiệp ước mới. Iran một mặt phủ nhận cáo buộc chương trình nguyên tử của họ nhắm tới sản xuất bom hạt nhân, một mặt bác bỏ đề nghị tái đàm phán một hiệp ước mới, đồng thời có các động thái “đảo ngược” những cam kết của họ trong JCPoA, tiếp tục làm giàu uranium quá tỷ lệ tinh chế cho phép, viện lý do cấm vận của Hoa Kỳ buộc họ phải làm như vậy.

Sau khi Hoa Kỳ không kích giết chết tướng Qassem Suleimani của Iran ngày 03-01 vừa qua, ngày 06-01 Tehran tuyên bố ngừng tất cả mọi cam kết trong JCPoA và không giới hạn việc tinh chế uranium nữa.

Sự kiện ba nước Anh, Pháp và Đức – cũng là ba thành viên trong nhóm P5+1 ký kết hiệp ước JCPoA – thông báo cho Nga, Trung Quốc và Iran việc khởi động cơ chế giải quyết tranh chấp là một bước căng thẳng mới ở Trung Đông. Theo cơ chế này, trong vòng 15 ngày nếu các bên không dàn xếp được với nhau thì hiệp ước sẽ tạm ngừng thi hành và các biện pháp cấm vận kinh tế Iran sẽ được áp đặt trở lại. Thời hạn 15 ngày này có thể được xem xét gia hạn. “Chúng tôi không chấp nhận lý lẽ rằng Iran được quyền giảm thiểu các cam kết đã ký trong JCPoA. Ba nước chúng tôi không tham gia chiến dịch gây “sức ép tối đa” chống lại Iran. Hy vọng của chúng tôi là Iran trở lại thực hiện đầy đủ các cam kết của mình.” Thông cáo chung của ba nước nói trên cho biết, và nhấn mạnh rằng cả ba đều muốn hiệp ước hạt nhân với Iran được thực hiện thành công. Joseph Borrell, Cao ủy về chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu – tổ chức bảo đảm việc thực thi JCPoA – nói rằng, mục tiêu của việc khởi động cơ chế giải quyết tranh chấp không phải nhằm tái cấm vận Iran mà chỉ muốn bảo đảm nước này tuân thủ hiệp ước.

Trong khi đó Nga – một trong các nước P5+1, nói rằng việc khởi động cơ chế giải quyết tranh chấp làm cho việc thực thi hiệp ước trở nên không thể tiếp tục được

Về phần mình, Iran cực lực bác bỏ tuyên bố của Anh, Pháp, Đức. Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif cho biết: “Về mặt pháp lý, việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp là không có cơ sở và là một sai lầm chiến lược.” Ông Zarif tố cáo châu Âu đã “phản bội” lời hứa bảo vệ nền kinh tế Iran trước áp lực cấm vận của Mỹ, theo hãng tin Fars. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Iran, ông Abbas Moisavi nói rằng Iran ủng hộ mọi hành vi “thiện chí và nỗ lực xây dựng” để cứu vãn hiệp ước JCPoA nhưng sẽ “phản ứng quyết liệt mọi biện pháp phá hoại.”

* Cũng hôm nay thứ Ba 14-01, một số thượng nghị sĩ Hoa Kỳ nói rằng Thượng viện đã có đủ số phiếu cần thiết để thông qua, có thể trong tuần sau, một nghị quyết hạn chế quyền lực của Tổng thống Trump thực hiện hành động quân sự chống Iran khi chưa có sự phê chuẩn của Quốc hội Mỹ.

Amy Chua: Những bộ lạc chính trị: Bản năng tập thể và số phận các dân tộc (*)

 

 [Bài dưới đây thể hiện quan điểm của tác giả Amy Chua, một luật sư, giáo sư khoa Luật đại học Yale, Hoa Kỳ, trong cuốn sách mới xuất bản của bà; chúng tôi dịch và đăng để bạn đọc tham khảo trong tinh thần thông tin đa chiều, mở rộng kiến văn; bài không nhất thiết phản ánh quan điểm của người dịch hoặc của trang mạng này. Cụm từ “chúng ta” trong bài đại diện cho người Mỹ].

 

Chương 2:

VIỆT NAM

BẢN SẮC VIỆT NAM

Giống như Trung Quốc, Việt Nam là một quốc gia thuần chủng tiêu biểu; sinh ra một hình thức “bản sắc dựa vào huyết thống”. Đại bộ phận dân chúng là người dân tộc Việt [Kinh], từ đó đặt quốc hiệu và ngôn ngữ. Nhưng đồng thời, bản sắc dân tộc Việt Nam trong thực tế được xác lập trong thế đối kháng với kẻ thù Trung Quốc.

Tất nhiên Trung Quốc to lớn hơn Việt Nam nhiều lần. Xét về diện tích, Trung Quốc so với Việt Nam cũng giống như Hoa Kỳ so với Ecuador. Hai nước Việt, Trung lại là láng giềng của nhau nên nếu nhìn vào bản đồ, Trung Quốc giống như một ông thần đèn nặng hai trăm rưỡi ký lô ngồi trên cây đèn nhỏ bé xiêu vẹo là Việt Nam. Bởi vì kích cỡ và sự gần gũi ấy, Trung Quốc không chỉ là kẻ thù mà còn là mối đe dọa thường xuyên tới sự sinh tồn của nước Việt Nam.

Vào năm 111 trước Công nguyên, Trung Quốc chinh phục dân tộc Việt, sáp nhập nước Nam Việt (được dịch ra tiếng Trung Quốc là miền đất của những người man di phương nam) vào đế quốc Trung Hoa, và trong suốt một ngàn năm sau đó Trung Quốc cai trị miền đất này như một tỉnh của mình. Dưới ách cai trị của Trung Quốc, người Việt tiếp thu phần lớn văn hóa Trung Hoa, kể cả đạo Phật, đạo Lão và đạo Khổng, cùng với hệ thống thi cử và guồng máy quan lại hành chính. Nhưng người Việt từ chối trở thành người Trung Quốc. Trái lại, họ trở nên ngày càng “vị chủng dữ dội” (intensely ethnocentric). Mặc dù dưới thời Trung Quốc cai trị, tiếng Trung Hoa là ngôn ngữ chính thức, được sử dụng rộng rãi trong giới tinh hoa của xã hội, người Việt Nam vẫn bảo tồn ngôn ngữ riêng của mình, cùng với những ký ức từ thời chưa tiếp xúc với văn minh Trung Hoa. Họ chưa bao giờ đánh mất lòng tôn kính những vị anh hùng bản địa đã chống lại người Trung Quốc.

Ngay cả sau khi Việt Nam giành được độc lập từ Trung Quốc năm 938 sau Công nguyên, nước này vẫn nằm trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, họ triều cống các hoàng đế Trung Quốc trong một ngàn năm nữa. Trong suốt thời kỳ này, Trung Quốc đã nhiều lần xâm lược Việt Nam, nhưng điều không tin nổi là hết lần này đến lượt khác các lực lượng Trung Quốc đều bị thảm bại. Những câu chuyện về lòng dũng cảm Việt Nam và tài khéo léo kiểu David-chống lại-Goliath trong việc đẩy lùi những kẻ xâm lược Trung Quốc luôn nằm trong trái tim của văn hóa dân gian Việt Nam.

Bản sắc dân tộc Việt Nam đương đại cũng một phần được xây dựng trong thế kỷ 20. Vào thập niên 1920, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, đã nổi lên một nhóm trí thức trẻ Việt Nam, đấu tranh cho “một Việt Nam mới, thoát khỏi ách thống trị thực dân và gánh nặng của quá khứ”. Những người trí thức này không chỉ chống lại người Pháp, họ còn nhắm vào người Trung Hoa. Những nhà dân tộc chủ nghĩa có ảnh hưởng lớn này nhắc nhở người Việt về cuộc đấu tranh chống Trung Quốc từ ngàn xưa, làm hồi sinh các nhân vật truyền thuyết như Hai Bà Trưng – người đã giải phóng đất nước Việt Nam vào năm 40 sau Công nguyên để rồi cuối cùng hy sinh cuộc sống của chính họ (và dường như họ còn bị mất đầu nữa). Các nhà dân tộc chủ nghĩa cũng tấn công Khổng giáo, coi đó như là một truyền thống “ngột ngạt”, bóp nghẹt tự do và tư tưởng cá nhân. Theo nhà sử học Christopher Goscha, thông điệp của những nhà dân tộc chủ nghĩa này rất đơn giản: “Những cá nhân đàn ông và đàn bà đã đứng lên trong quá khứ để chống lại một ngàn năm đô hộ của Trung Quốc thì ngày nay họ cũng có thể làm lại như vậy”.

Huyền thoại hay không, mỗi trẻ em Việt Nam đều được học về những thành tích anh hùng của cha ông, những người luôn luôn đấu tranh chống lại cùng một kẻ thù: Trung Quốc. Quả thực, cuộc chiến đấu lâu dài chống sự thống trị của Trung Quốc đã giữ vai trò trung tâm trong việc sản sinh ra trong người Việt Nam một ý thức đồng bào và một chủ nghĩa dân tộc vị chủng (ethnic nationalism). Như nhà sử học Việt Nam Trần Khanh có viết, “Cuộc chiến đấu vì sự sinh tồn của dân tộc Việt chống lại Trung Quốc đã nâng cao tinh thần cộng đồng của người Việt. Họ cảm thấy mình là anh em chị em có cùng một tổ tiên và họ làm hết sức mình để bảo vệ văn hóa và chủng tộc của họ”.

Nhưng thật đáng ngạc nhiên, những người hoạch định chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ thời Chiến tranh Lạnh lại mù tịt về lịch sử Việt Nam đến mức họ nghĩ rằng Việt Nam là con tốt đen của Trung Quốc – là “cái bung xung của Bắc Kinh ở Đông Nam Á”. Đây là một lỗi lầm, một sự mù quáng tập thể có tầm vóc khủng khiếp.

Năm 1995, Robert McNamara, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Chiến tranh Việt Nam, gặp gỡ cựu đối thủ của ông ta, bộ trưởng ngoại giao Bắc Việt Nam. Ông ta kể lại lời của kẻ cựu thù: “Ngài McNamara, có lẽ ngài không bao giờ đọc một cuốn sách lịch sử. Nếu ngài có đọc, hẳn ngài đã biết chúng tôi không phải là quân tốt đen của người Trung Quốc… Ngài có hiểu rằng chúng tôi đã chiến đấu chống người Trung Quốc cả ngàn năm hay không? Chúng tôi chiến đấu cho nền độc lập của chúng tôi. Và chúng tôi sẽ chiến đấu tới người lính cuối cùng… Không lượng bom Mỹ nào, không sức ép của Mỹ nào ngăn cản chúng tôi được”.

Nước Mỹ thời Chiến tranh Lạnh nhìn vị lãnh tụ cách mạng Bắc Việt Nam Hồ Chí Minh như là “con bù nhìn của Trung Quốc”. Một lần nữa, đây lại là một sai lầm kinh khủng. Từ bé, Hồ đã được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện về các vị anh hùng Việt Nam đánh lùi những kẻ xâm lược Trung Quốc đáng ghét. Ông ta đã trải qua ít nhất 13 tháng trong các nhà tù Trung Quốc, đôi lúc bị biệt giam và thường bị buộc phải cuốc bộ từ hai mươi lăm đến ba mươi dặm mỗi ngày trong lúc chân vẫn phải mang xiềng xích.

Ông Hồ thường được miêu tả là một người “ăn nói nhẹ nhàng” và thường được so sánh với Gandhi, nhưng đừng bao giờ nghĩ rằng ông Hồ đã vượt qua được cái bản tính chống Trung Quốc cố hữu. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai, khi một thuộc cấp của ông đề nghị hãy dựa vào Trung Quốc để đánh đuổi người Pháp, ông Hồ đã gay gắt: “Đồ ngu! Chú không thuộc lịch sử nước ta à? Lần cuối mà người Tàu đến, họ ở lại cả ngàn năm… Tôi thà ngửi cứt người Pháp 5 năm còn hơn ăn cứt người Tàu trong phần còn lại của đời mình”.

Ông Hồ chắc chắn là một người theo chủ nghĩa Marx. Nhưng nếu chúng ta hiểu được nỗi hoài nghi sâu sắc của người Việt đối với người Trung Quốc thì việc ông Hồ viết thư cho tổng thống Truman, khẩn cầu sự ủng hộ của người Mỹ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, liệu có thể mở ra một chiến lược khác hay không? Ông Hồ đã nhắc đi nhắc lại rằng cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam giống với cuộc đấu tranh của người Mỹ, ông thậm chí còn trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ để mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Một báo cáo của đơn vị OSS [tiền thân của cơ quan tình báo CIA] thời tổng thống Truman, bị xếp loại tài liệu mật trong nhiều năm, đã miêu tả ông Hồ là, “mặc dù ông ấy trước kia ưa chuộng các lý tưởng cộng sản nhưng giờ đây ông ấy nhận ra rằng những lý tưởng như vậy là không thực tế cho đất nước của ông”. Liệu chúng ta đã có thể ủng hộ ông Hồ chống lại người Pháp, đầu tư vào nỗi hận thù lịch sử của người Việt đối với Trung Quốc để giữ chân người Việt trong không gian ảnh hưởng của chúng ta hay không?

Chúng ta không bao giờ biết được. Chẳng hiểu vì sao chúng ta không bao giờ nhìn thấy hoặc xem xét nghiêm chỉnh mối thù địch giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ba mươi năm sau cuộc chiến Việt Nam, cựu thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ đã viết rằng:

Đối với nhiều người Mỹ ở Việt Nam, chúng tôi mơ hồ chỉ là “người Trung Hoa”. Chúng tôi không phải như vậy. Chúng tôi là người Việt Nam. Người Mỹ không nhận thức được điều đó… chúng tôi gần như là quốc gia duy nhất ở châu Á đã đánh bại [Trung Quốc]; những người Việt, như chúng tôi được gọi vào thời ấy, đã đánh bại những đoàn quân của triều nhà Đường, và một thế kỷ sau đó chúng tôi lại đánh bại quân đội nhà Tống.

Chúng ta đã không chỉ bỏ lỡ nỗi hận thù giữa Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta còn bỏ lỡ thêm cả một chiều kích sắc tộc tồn tại trong nước Việt Nam và điều đó đã khiến chúng ta phải gánh chịu thất bại ngay từ đầu trong cuộc đấu tranh giành lấy trái tim và khối óc của người dân nước này. Việt Nam có bên trong biên giới của mình một thiểu số Hoa kiều giữ vai trò thống trị thị trường.

NHỮNG THIỂU SỐ THỐNG TRỊ THỊ TRƯỜNG Ở THẾ GIỚI ĐANG PHÁT TRIỂN

Năm 2003 tôi (tác giả) đặt ra cụm từ “thiểu số thống trị thị trường” (market-dominant minority) để miêu tả tình trạng một sắc tộc thiểu số có khuynh hướng thống trị về mặt kinh tế, thường là tới một quy mô đáng ngạc nhiên, tùy vào những điều kiện của thị trường, đối với đa số “bản xứ” nghèo khó ở quanh họ, sinh ra những nỗi ác cảm rộng lớn trong cộng đồng đa số – những người tự coi mình như là những chủ nhân đích thực của miền đất đang bị đe dọa từ những kẻ ngoại bang “tham lam” và bóc lột.

Các thiểu số thống trị thị trường là hiện tượng rất phổ biến trong thế giới đang phát triển. Những ví dụ về tình trạng này là người sắc tộc Trung Quốc ở khắp Đông Nam Á, người Ấn Độ ở Đông Phi và nhiều khu vực Caribbean, người Li-băng ở Tây Phi và nhiều khu vực Caribbean, người Igbo ở Nigeria, người Bamileke ở Cameroon, người Kikuyu ở Kenya, người da trắng ở Nam Phi, ở Zimbabwe, ở Namibia, người Croat ở Nam Tư cũ, người Do Thái ở nước Nga hậu Cộng sản, người Parsis và Gujarat ở Mumbai… – danh sách này còn rất dài.

Các cộng đồng sắc tộc thiểu số này có thể trở thành thế lực thống trị thị trường do nhiều lý do khác nhau, đôi khi hoàn toàn không liên can gì tới kinh tế, bao gồm cả chính sách chia để trị của chế độ thực dân hoặc do lịch sử của chế độ phân biệt chủng tộc. Trong một số trường hợp, chẳng hạn như trường hợp sắc dân da trắng ở Nam Phi – một thiểu số đã sử dụng sức mạnh tàn bạo và quyền lực của nhà nước để đày ải cộng đồng đa số vào một nền giáo dục hạ cấp và những điều kiện sống vô nhân đạo trong hơn một thế kỷ – thì cái thiểu số da trắng đó có thể trở thành lực lượng thống trị thị trường vì những lý do chẳng liên quan gì tới tính ưu việt của tinh thần kinh doanh cả.

Mặt khác, cần nói rõ rằng sự thống trị thị trường không đề cập tới những khuôn mẫu sắc tộc mơ hồ mà tới thực tế, tới quyền kiểm soát hoàn toàn không cân xứng các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Ở Indonesia láng giềng của Việt Nam, người gốc Trung Quốc chỉ chiếm 3 phần trăm dân số nhưng kiểm soát tới 70 phần trăm hoạt động kinh tế tư nhân, bao gồm gần như toàn bộ các tập đoàn kinh tế lớn nhất nước này. Trong phần lớn lịch sử nước Bolivia ở Nam Mỹ, một thiểu số rất nhỏ giới “tinh hoa” có màu da sáng, “được Tây phương hóa” đã kiểm soát gần như toàn bộ tài sản quốc gia, trong khi đa số dân chúng bản địa phải sống trong tình trạng nghèo khó cùng cực. Ở Philippines, 2 phần trăm dân số là người gốc Trung Quốc thiểu số kiểm soát các tập đoàn, ngành ngân hàng, hàng không, vận tải biển và bán lẻ; năm 2015, có 4 người giàu nhất Philippines và 10 người trong số 15 người giàu nhất là người gốc Trung Quốc, theo tạp chí Forbes.

Thiểu số thống trị thị trường là một trong những lực đẩy mạnh mẽ nhất của chủ nghĩa bộ lạc chính trị. Khi một đất nước đang phát triển với một đa số nghèo khó lại có một thiểu số thống trị thị trường thì những kết quả sau đó có thể dự đoán được. Nỗi ác cảm sắc tộc căng thẳng hầu như là chuyện bất biến, thường xuyên dẫn tới những vụ tịch thu tài sản của nhóm thiểu số, nạn hôi của, bạo loạn, bạo lực và thanh lọc sắc tộc, tất cả đều xảy ra thường xuyên. Trong những điều kiện này, việc theo đuổi các chính sách thị trường tự do không bị giới hạn càng làm cho tình hình thêm tồi tệ. Nó làm gia tăng sự giàu có của sắc tộc thiểu số, kích thích thêm nhiều mối ác cảm nữa, nhiều bạo lực và một cách tiêu biểu, nó dẫn tới cơn giận dữ của dân chúng đối với chế độ đã theo đuổi những chính sách như vậy. Tất cả những chuyện này đều có thực ở Việt Nam.

THIỂU SỐ HOA KIỀU CỦA VIỆT NAM

Người Trung Quốc ở Việt Nam – gọi là Hoa kiều – đã là thế lực thống trị thị trường trong nhiều thế kỷ; về mặt lịch sử họ kiểm soát những lĩnh vực kinh tế nhiều lợi nhuận nhất là thương mại, thương nghiệp và công nghiệp. Nỗi căm ghét trước thành công của người Hoa, cộng với nhiều cuộc xâm lược diễn đi diễn lại của Trung Quốc, đã khơi dậy những cuộc trả thù chống người Hoa thỉnh thoảng lại xảy ra, đáng kể là vụ thảm sát người Hoa ở Chợ Lớn năm 1782, trong đó hàng chục ngàn (?) Hoa kiều bị giết chết. Theo sử sách chính thức của Việt Nam, các cửa tiệm của Hoa kiều bị đốt cháy, bị cướp của, nạn nhân bao gồm cả “đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ”, bị giết chết không phân biệt, “và xác của họ bị vứt xuống sông. Trong cả tháng trời không ai dám ăn tôm cá hoặc uống nước lấy từ giòng sông đó”.

Khi người Pháp đến Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, họ đã ngoan cố vun trồng tinh thần kinh doanh của người Hoa – một cung cách chia để trị tiêu biểu của chế độ thực dân – và chào đón những di dân Trung Quốc. Dưới sự cai trị của thực dân Pháp, dân số Hoa kiều đã tăng từ 25.000 người trong thập niên 1860 lên tới hơn 200.000 người vào năm 1911. Vào thập niên 1950, người Hoa đã tích lũy được “sức mạnh kinh tế rộng lớn” và ảnh hưởng chính trị tới mức họ được coi là “một nhà nước trong nhà nước”. Các ông trùm Hoa kiều, phần lớn cư ngụ ở miền Nam Việt Nam, được biết tới như “những ông vua” – “Vua Dầu lửa, vua Dầu ăn, Vua Gạo, vua Kim loại phế liệu, vân vân”.

Khó mà cường điệu sự thống trị kinh tế của Hoa kiều. Trong khi giới tinh hoa người Việt lấp đầy các cấp bậc của hệ thống hành chính, đại học, quân đội và các nghề chuyên môn thì Hoa kiều giữ “sự kiểm soát chặt chẽ” các lĩnh vực thương mại và kinh doanh của Việt Nam. Mặc dù Hoa kiều chỉ chiếm một tỷ lệ dân số hết sức nhỏ nhoi, họ vẫn kiểm soát tới 80 phần trăm ngành công nghiệp Việt Nam. Người Hoa cũng thống trị ngành bán lẻ, các lĩnh vực tài chính và giao thông vận tải và tất cả các phương diện của nền kinh tế lúa gạo của Việt Nam. Hơn thế nữa, họ chiếm vai trò rất không cân đối trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ; tính đến giữa thế kỷ 20, họ sở hữu hơn một nửa số khách sạn lớn, và 90 phần trăm số khách sạn nhỏ ở khu vực thành phố Sài Gòn; ngoài ra họ còn làm chủ 92 nhà hàng lớn, 243 tiệm trà quán bia và 826 tiệm ăn các kiểu. Theo một dự tính, người Hoa ở Việt Nam kiểm soát tới 90 phần trăm lượng vốn tư nhân không thuộc về người Âu châu.

Không chỉ sự giàu có của Hoa kiều thổi bùng lên sự tức giận của người địa phương mà thái độ của họ càng đổ dầu vào lửa. Hoa kiều có xu hướng sống biệt lập với người Việt, thường là trong những khu vực tách riêng giàu có, theo học trường riêng, đi lễ đền chùa riêng, hầu như chỉ kết hôn trong sắc tộc Trung Quốc với nhau và luôn tỏa ra một ý thức về “tính chất riêng biệt về chủng tộc và văn hóa” của mình. Dù đúng hay sai thì Hoa kiều bị coi như đã lợi dụng người Việt bản địa, tuyệt đại đa số vẫn còn là những nông dân nghèo khổ. Khi Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Pháp, người Hoa thiểu số vẫn tỏ ra “phi chính trị”, làm cho người Việt hết sức phẫn nộ.

Có vẻ như người Mỹ không hề biết gì về thực tế sắc tộc này khi chúng ta tham gia chiến tranh – hoặc nếu như chúng ta biết thì hiểu biết đó cũng không hề được phản ánh trong chính sách của chúng ta.

SỰ CAN THIỆP CỦA NGƯỜI MỸ

Năm 1954, Việt Nam đánh bại người Pháp sau tám năm chiến tranh. Theo hiệp định Geneva được Hoa Kỳ hậu thuẫn, nước Việt Nam bị chia làm hai miền, chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa của ông Hồ cai trị miền Bắc, thủ đô là Hà Nội; còn chính phủ Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ hậu thuẫn cai trị miền Nam, thủ đô là Sài Gòn.

Hiệp định Geneve cho người dân Việt Nam khoảng thời gian 300 ngày để tự do di cư tới miền đất mà họ lựa chọn; trong khi chỉ có khoảng 120.000 người di cư từ miền Nam ra miền Bắc thì có hơn 800.000 người di cư theo hướng ngược lại. Những chiến sĩ chiến tranh lạnh người Mỹ chắc chắn đã nhìn thấy người Việt Nam bỏ phiếu bằng chân về hướng chủ nghĩa tư bản, nhưng một lăng kính thiên về ý thức tập thể hơn sẽ cho thấy một bức tranh rất khác. Nhiều người di cư từ Bắc vào Nam là Hoa kiều (đại bộ phận Hoa kiều ở miền Bắc đã di cư) và phần lớn người Việt di cư vào Nam là giáo dân Công giáo, kể cả giới tinh hoa người Việt đã được “Pháp hóa”, những người lo sợ sự bức hại của Cộng sản. Vào cuối thời kỳ di cư tự do, đại đa số Hoa kiều, khoảng 1 triệu trong tổng số 1,2 triệu người – đã chuyển vào sinh sống ở miền Nam Việt Nam.

Ông Hồ là người tin tưởng nhiệt thành vào ý tưởng về một dân tộc Việt Nam thống nhất. Ông có lần tuyên bố: “Chúng ta có cùng tổ tiên, chúng ta là người cùng một gia đình, tất cả chúng ta là anh em, chị em của nhau… Không ai có thể chia cắt những đứa con cùng một gia đình. Tương tự như vậy, không ai có thể chia cắt Việt Nam”. Năm 1959, ông Hồ ra lệnh cho quân đội Bắc Việt Nam tiến hành “giải phóng” miền Nam.

Hoa Kỳ phản ứng bằng việc gia tăng sự tham gia của quân đội. Năm 1965, chúng ta bắt đầu gởi sang Việt Nam hàng ngàn binh lính. Chúng ta đã chiến đấu ở Việt Nam suốt một thập kỷ, và chúng ta đã thất bại. Chúng ta đã không chuẩn bị cho, hoặc không điều chỉnh cho phù hợp với, chiến tranh du kích. Chúng ta hậu thuẫn cho những nhà lãnh đạo sai lầm. Vài người lập luận rằng lẽ ra chúng ta đã có thể chiến thắng nếu như chúng ta gởi thêm binh lính. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cho thất bại thảm hại của chúng ta hiện vẫn chưa được công nhận.

Đa số “các nhà tư bản Việt Nam” không phải là người Việt. Trái lại, chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam tồn tại và phát triển cùng với người Hoa – và Hoa kiều là những kẻ hưởng lợi chủ yếu – một thực tế mà Hà Nội nhiều lần nhấn mạnh. Mặc dù vẫn có những người Việt giàu có trong giới doanh thương nhưng Hà Nội vẫn phóng đại tầm mức sự thống trị của Hoa kiều; chẳng hạn như họ tuyên bố rằng “người gốc Hoa kiểm soát 100 phần trăm hoạt động thương mại bán sỉ ở miền Nam Việt Nam” và có lúc họ thậm chí còn nói rằng thành phố Chợ Lớn với đa phần dân số là người Hoa là “trái tim tư bản chủ nghĩa bên trong cơ thể nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Những chính sách thời chiến của chúng ta đã làm gia tăng sự giàu có và quyền lực của Hoa kiều vốn đã sẵn bị người Việt căm ghét. Hoa Kỳ đã đổ hơn 100 tỉ USD vào những nỗ lực chiến tranh và trong mức độ mà số tiền này đến được tay dân chúng địa phương, phần lớn nó đã rơi vào túi của người gốc Hoa. Người Mỹ cần một số lượng khổng lồ các nguồn cung ứng và dịch vụ; và Hoa kiều có sẵn lợi thế tốt nhất để đáp ứng nhu cầu đó. Người Hoa “xử lý hơn 60 phần trăm tổng khối lượng hàng hóa nhập cảng vào Việt Nam thông qua viện trợ Mỹ”. Nhiều người Hoa làm giàu nhờ vai trò trung gian. Trong số các nhà nhập khẩu trực tiếp và gián tiếp ở Việt Nam vào năm 1971, 84 phần trăm là người Hoa. Ngoài ra, một thị trường chợ đen bùng phát mạnh hầu như do Hoa kiều độc quyền kiểm soát, cung cấp cho lính Mỹ “đồng hồ vàng, kim cương, xe hơi, lông thú, cần sa, thuốc phiện, heroin” và gái điếm. (Năm 1966, các khu đèn đỏ ở Chợ Lớn thuê dụng khoảng ba mươi ngàn “gái điếm mồ côi do chiến tranh” và cứ 4 lính Mỹ thì có 1 người bị bệnh hoa liễu).

Không phải chỉ có đồng đô la Mỹ làm giàu cho thiểu số Hoa kiều ở Việt Nam mà là bản thân chủ nghĩa tư bản. Trong lĩnh vực tài chính, năm 1972 Hoa kiều ở địa phương làm chủ khoảng 28 trong số 32 ngân hàng ở Nam Việt Nam (mặc dù nhiều ngân hàng như vậy về danh nghĩa là do người Việt sở hữu). Hơn thế nữa, quyền lực kinh tế sinh ra khả năng mua chuộc ảnh hưởng chính trị, và người Hoa ở Sài Gòn khét tiếng trong việc nuôi dưỡng quan hệ và hối lộ các chính trị gia và lãnh đạo quân đội Nam Việt Nam. “Chất nhờn tham nhũng rỉ ra từ thất khiếu” của miền Nam Việt Nam thời chiến tranh.

Người Hoa không chỉ hưởng lợi từ sự can thiệp của người Mỹ, họ còn dửng dưng một cách độc ác với những nỗi thống khổ của người Việt sống chung quanh họ. Có những lúc, các ông trùm lúa gạo người Hoa cố tình tạo ra nạn khan hiếm lúa gạo để nâng giá, làm trầm trọng thêm nạn đói và suy dinh dưỡng vốn đã hết sức tồi tệ do chiến tranh gây ra. Họ đầu cơ tích trữ lúa gạo và thậm chí còn quăng gạo xuống sông để tránh những cuộc lục soát của chính quyền. Tệ hại hơn nữa, người Hoa còn lẩn tránh một cách có hệ thống chính sách quân dịch bằng cách đưa hối lộ. Cảnh sát trưởng khu vực Chợ Lớn trở thành một trong những chức vụ béo bở nhất nước; và cuối cùng hơn 100.000 cư dân Hoa kiều Chợ Lớn đã tránh được quân dịch. Hậu quả là, chế độ do Hoa Kỳ hậu thuẫn yêu cầu người dân miền Nam Việt Nam chiến đấu và hy sinh – và giết hại những người anh em miền Bắc – chỉ để giữ cho người Hoa được giàu có.

Chúng ta đã bỏ lỡ chiều kích sắc tộc này. Đa số các viên chức quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam đều không nhận ra sự khác biệt giữa người Hoa và người Việt, thậm chí họ không hề biết rằng có một sự khác biệt như vậy. Tất cả mọi người dân châu Á đều là “dinks, gooks, slants và slopes” (**). Như một người Mỹ ở Việt Nam diễn tả, “Chúng tôi thậm chí không nghĩ rằng họ là con người – chỉ là “những thằng gooks không chảy máu, gooks không biết đau, gooks không có ý thức gì về lòng trung thành hoặc tình yêu”.

**

Từ quan điểm của Washington, chúng ta đã chiến đấu chống lại cái ác của chủ nghĩa cộng sản, hy sinh những người lính Hoa Kỳ cho tự do của Việt Nam. Nhưng từ quan điểm của người Việt, cái ý tưởng người Mỹ đang đem lại cho họ “tự do” là phi lý. Kinh nghiệm từ sự can thiệp của người Mỹ là sự hủy diệt lối sống của họ. Hỏa lực của quân đội Mỹ tàn phá nhà cửa của hơn 2 triệu người dân miền Nam Việt Nam, đa số bị buộc phải tản cư vào các khu vực thành thị, bỏ lại phía sau mồ mả tổ tiên. Ngoài ra, họ còn phải chịu đựng việc ném bom tràn lan không phân biệt, bom cháy napalm và những cái chết kinh hoàng của dân thường. Ở miền Nam Việt Nam có đến hơn 1 triệu thường dân đã bị giết, 1 triệu người khác bị thương, phần lớn vì “hỏa lực thân thiện” của người Mỹ.

Và để làm gì? Cái bản sắc tập thể mà Hoa Kỳ đem lại cho người Việt là tư cách thành viên trong một nhà nước bù nhìn – sự sỉ nhục tột cùng ở một đất nước mà nhiều người lính Việt Nam đeo bùa hộ mệnh là hình ảnh Hai Bà Trưng, tượng trưng cho sự phản kháng ngoại xâm bằng mọi giá. Henry Kissinger đã sớm nhìn thấy chuyện này ngay từ năm 1969 khi ông ta cảnh báo rằng “Điều không may là sức mạnh quân sự của chúng ta đã không có một kết quả chính trị tương xứng; cho đến nay chúng ta vẫn không có khả năng tạo ra một cơ cấu chính trị có thể tồn tại qua cuộc phản công quân sự của Hà Nội sau khi chúng ta rút đi”. Như Guenter Lewy đã viết năm 1978, “Cuối cùng thì người lính Việt Nam Cộng hòa không cảm thấy rằng anh ta là một phần của một cộng đồng chính trị xứng đáng với sự hy sinh cao nhất; anh ta thấy không có lý do gì để chết” cho một chế độ mà Hoa Kỳ hậu thuẫn.

Về mặt vật chất, ngoài một thiểu số nhỏ bé ở trên đỉnh, người dân Việt Nam không nhận được lợi ích nào từ Hoa Kỳ; trái lại, họ mất con cái, nhà cửa; và những người duy nhất họ thấy thu được lợi nhuận chính là những Hoa kiều mà họ căm ghét cùng với các chính trị gia tham nhũng. Thế nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn và ngày càng có nhiều người dân Nam Việt Nam chuyển sang hàng ngũ đối phương; các nhà hoạch định chính sách ngoại giao Hoa Kỳ giật mình kinh hãi, họ không thể hiểu nổi tại sao người Việt lại ghét chúng ta đến như vậy và không muốn tiếp nhận “tự do” dành cho họ. Nếu chúng ta hiểu lịch sử Việt Nam và những thực tế sắc tộc của họ, chúng ta sẽ không bị hoang mang như thế.

Từ quan điểm chính trị bộ lạc, hầu như mọi bước đi mà chúng ta tiến hành ở Việt Nam đều được bảo đảm sẽ khiến người Việt chống lại chúng ta. Các chế độ mà chúng ta ủng hộ, những chính sách mà chúng ta thúc đẩy, những đồng tiền mà chúng ta bỏ ra, và những thái độ mà chúng ta mang tới đã làm cho người Việt căm ghét chúng ta, ghét chủ nghĩa tư bản, và chỉ giúp nâng cao sức thu hút và vị thế của ông Hồ Chí Minh đầy uy tín mà thôi.

Những binh lính Hoa Kỳ cuối cùng đã rời Sài Gòn năm 1973 và sau đó người Mỹ đã cố gắng lãng quên Việt Nam. Nhưng vào chính lúc đó chiều kích của chủ nghĩa dân tộc vị chủng của cuộc chiến tranh mới trở nên rõ ràng.

Tháng 9 năm 1975, chính phủ Xã hội chủ nghĩa mới đã thực hiện một chiến dịch chống tư bản dưới mật danh “X1”. Các doanh nghiệp Hoa kiều bị lục soát hoặc bị đóng cửa và 250 người Hoa giàu nhất bị bắt giam. Nhiều đại gia Hoa kiều bỏ chạy ra nước ngoài; một số khác tự tử. Các tờ báo Hoa ngữ, trường học do Hoa kiều điều hành bị đóng cửa, còn các bệnh viện của người Hoa bị nhà nước trưng thu. Mặc dù chiến dịch này cũng nhắm tới những người Việt giàu có, nhưng Hoa kiều gánh chịu thiệt hại lớn nhất; 70 phần trăm những người bị chính thức kết tội trong chiến dịch “chống tư sản mại bản” là người sắc tộc Trung Hoa. Tổng cộng người Hoa ở miền Nam Việt Nam đã bị mất khoảng 2 tỉ USD trong công cuộc quốc hữu hóa tài sản của họ vào cuối thập niên 1970 – một con số đáng kinh ngạc nếu lưu ý tới tình trạng nghèo khổ chung của Việt Nam vào thời gian ấy.

Tâm lý bài Hoa càng diễn biến tồi tệ hơn nữa khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc xấu đi. Năm 1977, “chiến dịch chống lại tất cả những người gốc Trung Quốc ở Việt Nam được đẩy mạnh ở quy mô toàn quốc”. Ở miền Nam, Hoa kiều bị quấy nhiễu, nhà cửa và tài sản của họ bị tịch thu. Ở miền Bắc, tất cả người Hoa đang làm việc đều bị đặt dưới sự giám sát và bị cấm nói chuyện bằng tiếng Trung Quốc – cho dù đa số trong cộng đồng Hoa kiều tương đối ít ỏi còn cư trú ở miền Bắc Việt Nam không phải là những nhà tư bản giàu có mà chỉ là những ngư dân, thợ rừng, thợ thủ công và người lao động bình thường. Ở các tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc, Hà Nội bắt đầu “thanh lọc các khu vực biên giới”, trục xuất Hoa kiều vì cáo buộc những lý do an ninh.

Nhưng những chính sách thanh lọc sắc tộc thực sự bắt đầu dưới mật danh “X2” – một chiến dịch đánh tư sản lần thứ hai, được khởi sự từ đầu năm 1978. Vào ngày 23 tháng Ba, một lực lượng dân quân khoảng 30 ngàn người đã bao vây kín khu Chợ Lớn – khu Hoa kiều của Sài Gòn – và lục soát từng ngôi nhà, từng cửa tiệm ở đó. Hàng hóa và những vật có giá trị bị tịch thu từ khoảng năm mươi ngàn doanh nghiệp Hoa kiều, và xung đột giữa Hoa kiều và cảnh sát khiến một số đường phố Chợ Lớn “đầy xác chết”. Những vụ bố ráp tương tự cũng xảy ra trên khắp cả nước, và người gốc Trung Quốc bị khai trừ ra khỏi đảng, chính quyền và quân đội. Chính phủ cũng bắt đầu bắt giữ và tái định cư người gốc Hoa với tốc độ đáng kinh ngạc; “hàng ngàn Hoa kiều đã chết trong khi lao động tại các khu kinh tế mới của Việt Nam hoặc trong khi đào thoát khỏi xứ sở”. Ngay cả người gốc Trung Quốc ở miền Bắc, từng là những chiến sĩ cách mạng trung kiên cũng bị bắt giữ vì bị nghi là gián điệp. Một người Việt gốc Trung Quốc sau này nhớ lại: “Bác tôi bị bắt vào thời gian đó. Ông ấy đã từng làm việc cho cách mạng… hơn bốn mươi năm. Ông đã được chính Cộng sản Việt Nam tặng thưởng huân chương cách mạng hạng nhất”. Báo U.S. News & World Report năm 1979 tường thuật, sử dụng “những thủ đoạn mà Hitler đã dùng để thổi bùng ngọn lửa căm thù người Do Thái”, Hà Nội ngày này sang ngày khác tố giác những vấn đề của Việt Nam là do sự kiểm soát của người Trung Quốc đáng ghét đối với hoạt động thương mại và vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Bắc Kinh thì tố cáo Hà Nội tàn sát tập thể và phạm tội ác chống lại người sắc tộc Trung Quốc. Mặc dù đã bị Hà Nội bác bỏ từ lâu, nhưng các chuyên gia đồng ý rằng “giờ đây những lời cáo giác của Trung Quốc tỏ ra có cơ sở”. Vào cuối năm 1978 hơn 250.000 Hoa kiều đã bị đẩy ra khỏi Việt Nam, và ước tính khoảng 30.000 đến 40.000 người khác bỏ mạng trên biển. Vào cuối thập niên 1970, người Mỹ nghe nói rất nhiều về “thuyền nhân Việt Nam”, nhưng rất ít khi, nếu có, họ được biết rằng phần lớn những người tị nạn ấy thực tế là người Việt gốc Hoa. Ví dụ, vào năm 1978, 85 phần trăm số thuyền nhân cập bến là Hoa kiều; năm 1979, các quan chức bộ ngoại giao Việt Nam gần như thừa nhận với báo chí nước ngoài rằng Việt Nam “có ý định loại bỏ hết người Trung Quốc ở Việt Nam”.

Như vậy, cuộc cách mạng Cộng sản của Việt Nam không chỉ là cuộc cách mạng dân tộc mà còn mang tính dân tộc vị chủng (ethnonationalist) gay gắt. Chúng ta đã hoàn toàn bỏ lỡ trái tim của chủ nghĩa bộ lạc chính trị Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn không phải là tay sai của Trung Quốc Cộng sản như Hoa Kỳ tưởng tượng ra, Việt Nam đã đánh nhau với Trung Quốc năm 1979. Thật khó mà tìm ra một chiến lược hữu hiệu hơn để tự bắn vào chân mình, xói mòn các mục tiêu của mình và tối đa hóa sự kháng cự của dân chúng chống lại chúng ta.

(*) Tiếng Anh, Penguin Publishing Group, 2018

(**) dinks, gooks, slants, slopes: những từ lóng có tính chất miệt thị mà lính Mỹ sử dụng để chỉ người Việt, người Philippines và người châu Á nói chung.

 

Ông Trump, người nhập cư và tiền Trung Quốc

Donald Trump – người đang dẫn đầu cuộc đua giành vị trí đại diện đảng Cộng hòa ra ứng cử tổng thống Mỹ và đang gây sóng gió trên chính trường Mỹ – là người lớn tiếng bài bác dân nhập cư, đặc biệt là người Hồi giáo và người Trung Quốc. Nhưng đằng sau những tuyên bố cứng rắn của ông là một thực tế khác.

Trong cuộc vận động tranh cử, ông Trump nhiều lần cảnh báo mối nguy mà người nhập cư Trung Quốc mang lại cho nước Mỹ. “Họ lấy hết công việc làm của chúng ta; họ lấy tiền của chúng ta; họ lấy tất cả mọi thứ”, ông nói về người Trung Quốc trong một bài diễn văn tháng trước. Ông yêu cầu cải tổ, thậm chí đóng băng, các chương trình nhập cư vào Mỹ, chỉ trừ các trường hợp có trình độ cao.

Nhưng trong lúc ông Trump tuyên bố đanh thép như vậy thì dự án Trump Bay Street đang xây dựng tại Jersey City lại ra sức mời mọc vốn đầu tư từ các tay nhà giàu Trung Quốc, hứa hẹn cho họ nhập tịch Mỹ, mà những “nhà đầu tư” này chẳng phải là người “có trình độ cao”.

Dự án Trump Bay Street, còn gọi là Trump Tower, là một cao ốc văn phòng và căn hộ cho thuê, do Công ty Kushner phát triển, mà Jared Kushner, chủ công ty, không ai khác hơn là con rể của ông Trump, chồng của Ivanka. Theo đoạn video giới thiệu dự án có phụ đề tiếng Trung, Trump Tower cao 50 tầng, có hồ bơi ngoài trời và sân tập đánh golf trong nhà, có tầm nhìn bao quát cả khu tài chính Manhattan của thành phố New York bên kia sông, chỉ cách 5 phút đi tàu điện, và kề cận khu phức hợp Trump Plaza Residence – cũng thuộc sở hữu của gia đình ông Trump. Đặc biệt hơn, đoạn video nhấn mạnh, các nhà đầu tư Trung Quốc, nếu góp vốn vào dự án theo chương trình visa EB-5 (nhập tịch Mỹ thông qua đầu tư) sẽ được nhanh chóng cấp “thẻ xanh” để đưa gia đình sang Mỹ sinh sống.

Chương trình visa EB-5 của chính phủ Mỹ cho phép người nước ngoài được nhận “thẻ xanh” hai năm – bước đầu của tiến trình nhập quốc tịch Mỹ – nếu đầu tư tối thiểu 500.000 đô la vào một dự án có khả năng tạo việc làm cho khoảng 10 người bản xứ. Năm 2014 – năm gần nhất có số liệu – chính phủ Mỹ đã cấp 10.692 visa EB-5, 85% trong số đó là người Trung Quốc.

Một công ty tư nhân do một đối tác của ông Trump điều hành, có cái tên dễ gây hiểu lầm là US Immigration Fund được thuê để tìm vốn đầu tư cho dự án, cho biết, tới nay dự án Trump Tower đã thu hút được khoảng 50 triệu đô la Mỹ, tương đương một phần tư tổng vốn đầu tư, thông qua chương trình EB-5. Mark Giresi, luật sư trưởng của công ty, xác nhận gần như toàn bộ số nhà đầu tư EB-5 của dự án này là từ Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là chương trình EB-5 thường xuyên bị chỉ trích ở Mỹ như là một chính sách “bán visa” cho những người ngoại quốc giàu tiền bạc mà không có trình độ hoặc kỹ năng làm việc, tạo điều kiện cho hoạt động rửa tiền và gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

Trong một báo cáo về chương trình EB-5 hồi năm ngoái, Văn phòng Trách nhiệm giải trình Chính phủ (GAO) – một cơ quan điều tra thuộc Quốc hội Mỹ, xác nhận nhiều hồ sơ xin visa EB-5 có nguy cơ lừa đảo cao, thậm chí sử dụng giấy tờ giả. Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cũng nói với GAO rằng, “không có cách nào xác thực được nguồn tài chính của người xin đầu tư”.

Tháng trước, Thượng nghị sĩ Charles Grassley, đảng Cộng hòa, Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượng viện Mỹ trích một báo cáo của Bộ Nội an nước này thừa nhận người nước ngoài được cấp visa EB-5 không phải trải qua những thủ tục chứng minh trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp như các diện nhập cư khác. Một quan chức Bộ Nội an còn khẳng định những người xin visa EB-5 từ Trung Quốc, Nga, Pakistan và Malaysia “được chấp nhận chỉ trong vòng 16 ngày mà không trải qua việc kiểm tra căn bản của cơ quan thực thi pháp luật”. Audrey Singer, nhà nghiên cứu của Viện Brookings, nói rằng, qua những dữ liệu thu thập được từ chương trình EB-5 gần như không thể xác định được chương trình đã tạo ra được bao nhiêu công việc làm.

Thêm nữa, chương trình EB-5 được thiết kế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm ở những vùng kinh tế kém phát triển, nhưng thực tế nó đã trở thành nguồn vốn bổ sung cho các dự án bất động sản cao cấp ở những vùng giàu có ở New York, Jersey City hoặc Los Angeles.

Vấn đề người nhập cư là trọng tâm trong chương trình tranh cử của ông Donald Trump. Ông nhiều lần tuyên bố sẽ xóa bỏ tình trạng lạm dụng “tràn lan” các loại visa tạm cấp cho người lao động nước ngoài, và “kiên quyết đòi hỏi doanh nghiệp Mỹ phải ưu tiên thuê mướn người Mỹ trước khi xem xét hồ sơ của người nhập cư”.

Tuy vậy qua dự án Trump Tower và nguồn tiền Trung Quốc, thực tế cho thấy các chính trị gia thường “nói một đằng, làm một nẻo” và đối với họ, đồng tiền có sức mạnh khó cưỡng lại được.

(theo Bloomberg)

 

ASIAD giá bao nhiêu?

Không ai hoài nghi rằng, nếu tổ chức thành công Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD) lần thứ 18 vào năm 2019 thì Việt Nam sẽ có cơ hội “nâng cao vị thế” trên trường quốc tế. Nhưng cái giá phải trả cho điều đó như thế nào.

Cho đến nay chưa ai biết việc tổ chức ASIAD 18 Hà Nội năm 2019 sẽ tiêu tốn bao nhiêu tiền của ngân sách quốc gia, ngoài con số 3.100 tỷ đồng, tương đương 150 triệu đô la Mỹ, mà Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đưa ra trước Quốc hội mới đây (con số mà cả Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch đầu tư đều không công nhận). Có người bảo 150 triệu đô là quá ít, nhưng ít hay nhiều thì có lẽ cần tham khảo số liệu của các thành phố lân cận đã từng đăng cai ASIAD.

Chỉ vài tháng nữa, tại thành phố Incheon (Hàn Quốc) sẽ tưng bừng diễn ra ASIAD 17 năm 2014. Để tổ chức ngày hội này, theo số liệu chưa chính thức, Incheon đã phải chi ra gần 2,9 tỉ đô la Mỹ.

Trước đó, khi đứng ra đăng ký đăng cai ASIAD 17, chính quyền thành phố Incheon đưa ra mức ngân sách dự kiến là 1,62 tỉ đô la Mỹ; trong đó Chính phủ Hàn Quốc sẽ đóng góp 19% từ ngân sách quốc gia, chính quyền thành phố Incheon đóng góp 78,9% từ ngân sách địa phương, chỉ có 2,1% là được huy động ngoài ngân sách, nói theo kiểu Việt Nam là “xã hội hóa”.

Thế nhưng, đến nay Đại hội chưa diễn ra mà số tiền mà Hàn Quốc thực chi đã cao gấp đôi số dự toán (2,9 tỉ đô la), gây một gánh nặng lên ngân sách thành phố Incheon. Năm 2007, khi Incheon giành được quyền đăng cai ASIAD 17, nợ công của chính quyền thành phố là 1.400 tỉ won; đến năm 2012, nợ công đã tăng gấp đôi, lên 3.000 tỉ won, tương đương 2,66 tỉ đô la Mỹ. Tình trạng tài chính căng thẳng đến nỗi ngày 1-4-2012, lần đầu tiên chính quyền Incheon không có đến 2 tỉ won để trả lương đúng hạn cho 6.000 công chức, giáo viên, cảnh sát, buộc Seoul phải ra tay hỗ trợ khẩn cấp.

Đã có nhiều tiếng nói của các tổ chức xã hội Hàn Quốc kêu gọi chính quyền Incheon chấm dứt việc tổ chức ASIAD 17, trả lại quyền đăng cai cho Hội đồng Olympic châu Á (OCA). Bất đắc dĩ, ngày 30-6-2013, Incheon và OCA phải đi tới một thỏa thuận cắt giảm chi phí, theo đó chỉ có 2.025 trong số 15.000 vận động viên tham dự ASIAD 17 được nước chủ nhà đài thọ chi phí ăn ở, đi lại trong thời gian đại hội; gần 13.000 vận động viên và quan khách còn lại phải tự túc chi phí. Việc cắt giảm này sẽ giúp Incheon tiết kiệm được 34 triệu đô la chi phí tổ chức Asiad 17 nhưng sự kiện chưa có tiền lệ này đã làm sứt mẻ đáng kể hình ảnh của thành phố đăng cai ngay trước khi Đại hội khai mạc.

Trước Incheon, ASIAD 16 được tổ chức tại thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. ASIAD Quảng Châu 2010 được coi là “hoành tráng” nhất nhưng về mặt tài chính cũng là kỳ đại hội “đội giá” lớn nhất.

Ngày 11-3-2005, ít lâu sau khi giành được quyền đăng cai tổ chức ASIAD, chính quyền Quảng Châu đưa ra con số dự toán là 2 tỉ nhân dân tệ (NDT), tương đương 300 triệu đô la Mỹ. Đến tháng 3-2009, giám đốc tiếp thị của Ban Tổ chức ASIAD Quảng Châu than thở, do khủng hoảng tài chính nên phần tài trợ của doanh nghiệp rất hẻo, chính quyền phải chi ra ít nhất là 420 triệu đô la Mỹ. Nhưng con số thực chi không dừng ở đó; ngày 13-10-2010, ngay khi ASIAD 16 đang diễn ra, Thị trưởng Quảng Châu Wan Qingliang tiết lộ trong một cuộc họp báo rằng chi phí tổ chức ASIAD đã lên tới 122,6 tỉ NDT, tương đương 17 tỉ đô la Mỹ, hơn 60 lần so với dự toán ban đầu!

Trước Quảng Châu, Qatar cũng đã phải tiêu tốn 2,8 tỉ đô la Mỹ để tổ chức ASIAD 15 năm 2006.

Ngày 7-6-2011 Hà Nội giành được quyền đăng cai tổ chức ASIAD 18 sau khi đánh bại Surabaya (Indonesia) với số phiếu 29-14 trong cuộc bỏ phiếu kín của OCA. Ứng cử viên thứ ba, thành phố Dubai thuộc Các tiểu vương quốc Arab, đã rút tên vào phút cuối. Trước đó nữa, các ứng viên nặng ký như Hồng Kông, New Delhi (Ấn Độ), Kuala Lumpur (Malaysia), Đài Bắc… đều rút tên sau khi cân nhắc được và mất. Hồng Kông rút tên vì ngày 14-1-2011 Ủy ban Tài chính của chính quyền đặc khu Hồng Kông bác bỏ dự toán ngân sách và người dân không tán thành việc tổ chức ASIAD; New Delhi đăng ký ngày 2-8-2010 nhưng sau đó rút tên vì chính phủ Ấn Độ vướng vào vụ lùm xùm tham nhũng khi tổ chức Đại hội Thể thao Khối Thịnh vượng chung năm 2010; Kuala Lumpur đăng ký vào tháng 1-2010 nhưng đến tháng 9-2010 thì rút lui vì “những hạn chế tài chính” và Đài Bắc cũng vậy. Xem ra, các thành phố nói trên đã có sự tính toán rất kỹ khi định đứng ra tổ chức cuộc chơi tầm châu lục như vậy.

Với nền kinh tế đang phải đương đầu với nhiều khó khăn, liệu Việt Nam có nên tiếp tục đầu tư cho sự kiện này không? Xem gương những thành phố đi trước – đều là những đại đô thị có trình độ phát triển cao, cơ sở hạ tầng sẵn có tốt hơn rất nhiều so với thủ đô Hà Nội – thì chắc chắn số tiền phải chi cho việc tổ chức ASIAD 18 sẽ không phải là 3.100 tỉ đồng như dự tính lạc quan của Bộ Văn hóa – Thể thao –Du lịch.

(http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/hoso/113009/ASIAD-gia-bao-nhieu?.html)

Sự trở lại của các cường quốc chuyên chế

Azar Gat

Foreign Affairs, tháng 7-8/2007

Azar Gat là giáo sư về An ninh quốc gia, Đại học Tel Aviv, Israel, tác giả sách “Chiến tranh trong nền văn minh nhân loại”.

Tận cùng của tận cùng của lịch sử

Trật tự dân chủ tự do toàn cầu ngày hôm nay đối mặt với hai thách thức. Trước tiên là Hồi giáo cấp tiến –  và đây là thách thức nhỏ hơn trong hai thách thức ấy. Mặc dù những người đề xướng Hồi giáo cấp tiến coi dân chủ tự do là đáng ghê tởm và phong trào Hồi giáo này thường bị coi là một mối đe dọa phát xít kiểu mới, các xã hội mà từ đó nó nổi lên nhìn chung vẫn còn nghèo và trì trệ. Các xã hội này không đưa ra được một sự thay thế hợp lý cho chủ nghĩa dân chủ tự do để đi tới xã hội hiện đại và không đặt ra mối đe dọa về quân sự đáng kể nào đối với thế giới đã phát triển. Chính khả năng tiềm tàng về sử dụng vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt – đặc biệt là bởi các tổ chức phi nhà nước – mới là điều chủ yếu làm cho Hồi giáo cực đoan trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng.

Thách thức thứ hai, và quan trọng hơn, phát sinh từ sự trỗi dậy của các cường quốc phi dân chủ là Trung Quốc và Nga – các đối thủ của phương Tây thời Chiến tranh Lạnh giờ đây đang vận hành theo chế độ tư bản chuyên chế chứ không phải là cộng sản. Các cường quốc tư bản chuyên chế giữ vai trò dẫn dắt trong hệ thống quốc tế cho đến năm 1945 rồi vắng mặt từ lúc ấy. Nhưng ngày nay, dường như chúng đã sẵn sàng quay lại.

Uy thế của chủ nghĩa tư bản có vẻ như sâu rễ bền gốc nhưng ưu thế hiện thời của nền dân chủ thì không được bảo đảm như vậy. Chủ nghĩa tư bản đã mở rộng không ngừng từ buổi đầu của thời hiện đại, nó tạo ra hàng hóa giá rẻ hơn và sức mạnh kinh tế siêu việt của nó đã xói mòn và làm biến đổi tất cả các thể chế kinh tế xã hội khác – một quá trình mà Karl Marx đã miêu tả rất đáng nhớ trong Tuyên ngôn của đảng Cộng sản. Nhưng trái với kỳ vọng của Marx, chủ nghĩa tư bản cũng có tác động tương tự lên chủ nghĩa cộng sản, thậm chí “đào mồ chôn” chủ nghĩa cộng sản mà không cần nổ một phát súng nào. Chiến thắng của thị trường – được thúc đẩy và củng cố bởi cuộc cách mạng công nghiệp-công nghệ – đã dẫn tới sự trỗi dậy của giai cấp trung lưu, tới sự gia tăng đô thị hóa, sự phổ cập giáo dục đào tạo và sự nổi lên của xã hội công dân, thậm chí là dẫn tới sự giàu có và sung túc hơn. Trong thời kỳ tiếp sau cuộc Chiến tranh Lạnh (cũng như trong thế kỷ 19 và trong thập niên 1950, 1960 của thế kỷ trước) có một niềm tin rộng rãi rằng nền dân chủ tự do đã nổi lên một cách tự nhiên từ công cuộc phát triển này – một quan điểm mà Francis Fukuyama cổ xúy một cách nổi tiếng. Ngày nay hơn một nửa số quốc gia trên thế giới có chính phủ được người dân bầu lên và gần một nửa đã có những quyền tự do sâu rộng đến mức đủ để coi là những xã hội hoàn toàn tự do.

Nhưng nguyên nhân dẫn tới thắng lợi của nền dân chủ, đặc biệt là đối với các đối thủ tư bản phi dân chủ trong hai cuộc chiến tranh thế giới, Đức và Nhật Bản, thì có tính chất ngẫu nhiên hơn người ta tưởng. Các nhà nước tư bản chuyên chế, điển hình ngày nay là Trung Quốc và Nga, lại có thể đưa ra một con đường thay thế khả thi để đi tới hiện đại hóa, và đến lượt nó lại cho thấy rằng thắng lợi cuối cùng của nền dân chủ tự do không phải là điều tất yếu – hoặc không phải là ưu thế của tương lai.

Biên niên sử về một thất bại chưa từng được đoán trước.

Phe dân chủ tự do đã đánh bại các đối thủ chuyên chế, phát xít và cộng sản trong cả ba cuộc chiến tranh lớn giữa các cường quốc trong thế kỷ 20 – hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc Chiến tranh Lạnh. Trong khi cố gắng xác định chính xác điều gì đã làm nên kết quả quyết định này, nhất thiết phải dò theo nó từ những đặc điểm riêng biệt và những lợi thế hiển nhiên của nền dân chủ tự do.

Một lợi thế có thể có là cách ứng xử quốc tế của các nền dân chủ. Các nền dân chủ được hưởng lợi nhiều hơn khi thay vì đe dọa nhau thì lại khơi gợi sự hợp tác quốc tế thông qua những mối ràng buộc và kỷ luật của hệ thống thị trường toàn cầu. Cách giải thích này có lẽ đúng với thời Chiến tranh Lạnh, khi nền kinh tế đã mở rộng rất nhiều trên toàn cầu được thống trị bởi các cường quốc dân chủ; nhưng nó lại không áp dụng được  cho hai cuộc chiến tranh thế giới. Cũng không đúng rằng các nền dân chủ tự do thành công nhờ chúng luôn gắn kết với nhau. Tuy vậy điều này lại đúng , hoặc ít nhất là một nhân tố đóng góp vào thành công của chế độ dân chủ tự do trong suốt thời Chiến tranh Lạnh, phe tư bản dân chủ giữ được sự đoàn kết trong khi sự đối kháng ngày càng tăng giữa Liên xô và Trung Quốc đã làm phân liệt khối cộng sản chủ nghĩa.

Thế nhưng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất, sự phân chia ý thức hệ giữa hai phe tỏ ra ít rõ ràng hơn. Liên minh Anh-Pháp trước tiên là kết quả của những cuộc tính toán về cân bằng thế lực hơn là một sự cộng tác tự do… Vào cuối thế kỷ 19, chính trị quyền lực đã đưa Vương quốc Anh và Pháp – vốn là những quốc gia đối nghịch nhau sâu sắc – đến bờ vực của chiến tranh và thôi thúc Vương quốc Anh tìm kiếm sự liên minh với Đức. Sự kiện nước Ý tự do tách ra khỏi phe Trục và gia nhập khối Đồng minh, mặc dù Ý có sự cạnh tranh với Pháp, đã thôi thúc sự hình thành mối liên minh Anh-Pháp vì vị trí bán đảo của Ý khiến cho đất nước này gặp nguy hiểm nếu đứng về phe đối lập với cường quốc hải dương hàng đầu thời ấy là Vương quốc Anh.

Tương tự như vậy, trong thời Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai, Pháp nhanh chóng bị đánh bại và bị tách ra khỏi phe Đồng minh (bao gồm cả nước Nga Xô viết phi dân chủ), trong khi các cường quốc theo chủ nghĩa toàn trị cánh hữu chiến đấu chung một chiến hào. Các công trình nghiên cứu về hành vi của liên minh các quốc gia dân chủ cho thấy rằng các chế độ dân chủ không biểu lộ khuynh hướng gắn kết với nhau nhiều hơn các kiểu chế độ khác.

Các chế độ tư bản chủ nghĩa toàn trị thất bại trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai cũng không phải do các đối thủ dân chủ của họ có nền tảng đạo đức cao hơn để kích thích nỗ lực lớn hơn của công dân như nhà sử học Richard Overy và những người khác nhận định. Trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, chủ nghĩa phát xít và chế độ Quốc xã là các hệ tư tưởng mới, hấp dẫn, đã khơi dậy nhiệt tình lớn lao của dân chúng trong khi học thuyết dân chủ rơi vào thế phòng ngự về hệ tư tưởng, tỏ ra già cỗi và không hấp dẫn. Trong thời chiến, các chế độ phát xít đã tỏ ra hấp dẫn hơn các đối thủ dân chủ của mình, và thành tích của các đoàn quân phát xít trên chiến trường thì được công nhận rộng rãi là ưu việt hơn.

Lợi thế được coi là cố hữu về kinh tế của dân chủ tự do cũng không rõ ràng như người ta thường giả định. Tất cả các nước tham chiến trong những cuộc đấu tranh lớn của thế kỷ 20 đều chứng tỏ có hiệu năng cao trong việc chuẩn bị cho chiến tranh. Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất, nước Đức bán chuyên chế đã huy động các nguồn tài nguyên của mình cũng hiệu quả ngang với các đối thủ dân chủ. Sau những thắng lợi ban đầu trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai, nước Đức Quốc xã có phần lơi lỏng trong công cuộc huy động kinh tế và sản xuất quân sự trong những năm quyết định 1940-42. Có được vị trí rất tốt vào thời điểm cán cân quyền lực toàn cầu đã biến đổi sau khi đã tàn phá Liên xô và bao trùm cả lục địa châu Âu nhưng nước Đức thất bại bởi vì các lực lượng vũ trang của họ không được cung cấp đầy đủ để làm nhiệm vụ. Lý do dẫn tới sự thiếu hụt này vẫn còn là một đề tài lịch sử được bàn tán, nhưng một trong những vấn đề của họ là sự tồn tại các trung tâm cạnh tranh quyền lực trong hệ thống Quốc xã, trong đó chiến thuật “chia để trị” của Hitler và các đầu lĩnh cao cấp của đảng Quốc xã tìm cách bảo vệ lãnh địa của mình đã dẫn tới một hệ quả hỗn loạn.

Hơn thế nữa, từ khi nước Pháp thất thủ vào tháng 6-1940 đến khi Đức phải rút lui trước khi đặt chân được vào Moscow tháng 12-1941, có một cảm giác phổ biến ở Đức rằng trong thực tế, nước Đức đã chiến thắng cuộc chiến tranh. Tương tự như vậy, từ năm 1942 trở về sau, nước Đức đã gia tăng mạnh mẽ việc huy động kinh tế và đã bắt kịp, thậm chí vượt qua các nền dân chủ tự do xét về tỷ trọng của GDP đầu tư cho chiến tranh (mặc dù quy mô sản xuất của Đức vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với nền kinh tế khổng lồ của Mỹ). Nhưng lúc đó đã quá muộn. Tương tự như vậy, mức độ huy động kinh tế ở nước Nhật đế quốc và Liên bang Xô viết cũng vượt qua mức độ của Mỹ và Anh, nhờ vào những nỗ lực khá tàn nhẫn.

Chỉ trong thời Chiến tranh Lạnh, nền kinh tế chỉ huy của Liên xô mới bộc lộ sự yếu kém sâu sắc về cơ cấu – sự yếu kém là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự sụp đổ của Liên xô. Hệ thống Xô viết đã thành công trong việc phát triển giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của công cuộc công nghiệp hóa (mặc dù phải trả giá rất đắt về nhân lực) và rất giỏi về các kỹ thuật bị cắt khúc trong hoạt động sản xuất hàng loạt trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai. Liên xô cũng giữ thế ngang ngửa về quân sự trong suốt thời Chiến tranh Lạnh. Nhưng bởi vì tính chất cứng nhắc, thiếu động lực của hệ thống này mà nó không ứng phó nổi với những giai đoạn phát triển tiến bộ hơn, không đáp ứng được yêu cầu của thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa.

Tuy vậy không có lý do gì để giả định rằng các chế độ tư bản chủ nghĩa toàn trị như nước Đức phát xít và nước Nhật đế quốc là yếu kém hơn về mặt kinh tế so với các nền dân chủ, nếu như hai nước này tiếp tục tồn tại. Tính chất thiếu hiệu quả mà sự thiên vị và không minh bạch tạo ra cho các chế độ đó có thể được bù đắp bởi mức độ kỷ luật rất cao trong xã hội. Nhờ có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có hiệu quả hơn mà các cường quốc toàn trị cánh hữu có khả năng trở thành một thách thức mạnh mẽ cho nền dân chủ tự do hơn là thách thức của Liên bang Xô viết; nước Đức phát xít đã được các cường quốc Đồng minh đánh giá là một thách thức như vậy trước và trong thời Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai. Các nền dân chủ tự do không sở hữu một lợi thế hiển nhiên nào về phương diện phát triển kinh tế và công nghệ so với nước Đức như so với các cường quốc đối thủ khác.

Tóm lại, thắng lợi của chế độ dân chủ tự do trước các đối thủ tư bản chuyên chế Đức và Nhật không đơn giản là do phe dân chủ đoàn kết hơn, có đạo đức cao hơn hay có lợi thế vượt trội về kinh tế.

Thế thì tại sao các nền dân chủ giành được chiến thắng trong các cuộc đấu tranh lớn của thế kỷ 20? Lý do thì không giống nhau, tùy vào các loại đối thủ. Các đối thủ tư bản phi dân chủ, như Đức và Nhật bị thất bại trong chiến tranh bởi vì Đức và Nhật chỉ là những quốc gia cỡ trung, cơ sở tài nguyên hạn chế lại đối đầu với một liên minh kinh tế và quân sự vượt trội gồm các cường quốc dân chủ cộng với nước Nga Xô viết.

Còn sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản lại liên quan nhiều tới những yếu tố về cơ cấu. Phe tư bản chủ nghĩa – mà sau năm 1945 đã mở rộng để bao hàm gần hết thế giới phát triển – sở hữu một sức mạnh kinh tế to lớn hơn nhiều so với khối cộng sản, và tính chất kém hiệu quả cố hữu của các nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa đã ngăn cản họ khai thác tối đa các nguồn tài nguyên to lớn của mình và bắt kịp phương Tây. Liên xô và Trung Quốc cộng lại thì lớn hơn và như vậy có tiềm năng trở nên hùng mạnh hơn phe dân chủ, nhưng cuối cùng họ thất bại bởi vì hệ thống kinh tế của họ trói buộc họ, trong khi các cường quốc tư bản phi dân chủ Đức và Nhật bị đánh bại bởi vì họ quá nhỏ.

Ngẫu nhiên cũng đóng một vai trò có tính chất quyết định trong việc làm lệch cán cân, gây bất lợi cho các cường quốc tư bản phi dân chủ và có lợi cho các nền dân chủ.

Biệt lệ nướcMỹ

Yếu tố quyết định nhất của sự ngẫu nhiên này chính là Mỹ. Dẫu sao, một cơ hội của lịch sử là mầm mống của chủ nghĩa tự do Anglo-Saxon lại đâm chồi nảy lộc ở bên kia bờ Đại Tây Dương, thể chế hóa các di sản châu Âu của mình bằng nền độc lập, phát triển trên vùng lãnh thổ dễ sống nhất và dân cư thưa thớt nhất thế giới, tiếp nhận cuộc di cư khổng lồ từ châu Âu và từ đó kiến tạo nên ở quy mô lục địa cái từng là – và hiện là – nơi tập trung sức mạnh kinh tế và quân sự lớn nhất thế giới cho đến nay. Một chế độ tự do và những đặc điểm về cấu trúc có liên quan rất nhiều tới thành công kinh tế của Hoa Kỳ và ngay cả với kích thước của nó, là nhờ sức hấp dẫn các dòng người di cư. Nhưng Hoa Kỳ sẽ khó mà đạt được sự vĩ đại như vậy nếu như nó không được định vị ở một “kẽ hở” địa lý-sinh thái rộng lớn và có lợi thế đặc biệt, như các trường hợp đối chứng của Canada, Australia và New Zealand đã chứng tỏ. Tất nhiên là yếu tố vị trí, mặc dù hết sức quan trọng, cũng chỉ là một điều kiện cần thiết trong nhiều điều kiện hình thành nên một người khổng lồ, và thật vậy Hoa Kỳ với tư cách một Hợp chủng quốc, là một thực tế chính trị tối cao của thế kỷ 20. Sự ngẫu nhiên ít nhất cũng có trách nhiệm ngang bằng với chủ nghĩa tự do đã làm nên sự nổi trội của Hoa Kỳ ở Tân Thế giới và kể từ đấy, tạo nên khả năng của nó sau này trong việc cứu vãn Cựu Thế giới.

Suốt thế kỷ 20, sức mạnh của Hoa Kỳ luôn vượt qua hai nước kế tiếp nó cộng lại, và điều này đã làm nghiêng một cách quyết định cán cân quyền lực toàn cầu theo hướng có lợi cho bất cứ phe nào mà Washington tham gia. Nếu có một yếu tố nào đó giúp cho các nền dân chủ tự do đạt được lợi thế thì trên hết đó chính là sự tồn tại của Hoa Kỳ hơn bất kỳ lợi thế hiển nhiên nào. Trong thực tế, nếu không có Hoa Kỳ, có lẽ phe dân chủ tự do đã thất bại trong những cuộc tranh đấu lớn lao của thế kỷ 20. Đây là một ý tưởng buồn thường bị bỏ qua trong khi nghiên cứu về sự lan rộng của dân chủ trong thế kỷ 20 và nó làm cho thế giới ngày nay có vẻ ngẫu nhiên nhiều hơn, thăng trầm nhiều hơn là đề xướng của các lý thuyết về phát triển. Nếu không có yếu tố Hoa Kỳ, sự phán xét của các thế hệ tương lai về chế độ dân chủ tự do có lẽ sẽ mang âm hưởng lời phán quyết tiêu cực về thành tích của nền dân chủ mà người Hy Lạp đưa ra vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, ngay sau thất bại của Athens trong cuộc chiến tranh Peloponnesia.

Thế giới thứ Hai mới

Nhưng tất nhiên việc kiểm kê lại các cuộc chiến tranh không phải là việc duy nhất mà các xã hội – dân chủ và phi dân chủ – phải trải qua. Người ta phải tự hỏi, các cường quốc tư bản toàn trị sẽ phát triển như thế nào nếu như chúng không bị đánh bại trong chiến tranh. Liệu có phải chăng, theo thời gian và trình độ phát triển cao hơn, các cường quốc này sẽ xé bỏ cái bản sắc trước đây của mình và tiếp nhận chủ nghĩa dân chủ tự do, giống như các chế độ cộng sản cũ ở Đông Âu đã làm? Liệu các nhà nước công nghiệp tư bản chủ nghĩa như nước Đức đế quốc thời trước Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất cuối cùng cũng sẽ tiến tới dân chủ hóa và gia tăng quyền kiểm soát của nghị viện? Hoặc nó sẽ phát triển thành một chế độ chuyên chế hoạt đầu chính trị, bị thống trị bởi sự câu kết giữa giới quan chức, lực lượng vũ trang  và giới tài phiệt công nghiệp, giống như đế quốc Nhật Bản đã làm (mặc dù ở Nhật có một giai đoạn tự do ngắn ngủi trong thập niên 1920)? Tự do hóa có vẻ như là một khả năng đáng hoài nghi trong trường hợp nước Đức phát xít nếu như nó còn tồn tại được, nếu không nói là nó chiến thắng. Bởi vì chiến tranh đã triệt tiêu tất cả mọi cuộc thử nghiệm lịch sử quan trọng này, câu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ vẫn chỉ là những lời suy đoán. Nhưng thành tích trong thời bình của các chế độ tư bản chuyên chế khác từ năm 1945 đến nay có thể cho ta một vài manh mối.

Các công trình nghiên cứu về giai đoạn này cho thấy các nền dân chủ nói chung đã vượt xa các hệ thống khác về phương diện kinh tế. Các chế độ tư bản chuyên chế ít ra cũng đã thành công – nếu không nói là thành công hơn – trong những giai đoạn phát triển ban đầu, nhưng sau khi vượt qua được một cái ngưỡng phát triển về kinh tế và xã hội, chúng có xu hướng dân chủ hóa. Đây có lẽ là một mô thức lặp đi lặp lại ở Đông Á, Nam Âu và châu Mỹ Latin. Tuy nhiên, từ hiện tượng này mà cố gắng rút ra kết luận về mô thức phát triển thì có thể nhầm lẫn bởi vì bản thân các hiện tượng đã không còn thuần chất. Từ năm 1945, những lực kéo, lực hấp dẫn khổng lồ mà Hoa Kỳ và sự bá chủ mà chủ nghĩa tự do gây ra đã làm méo mó những mô thức phát triển trên khắp thế giới.

Bởi vì các đại cường tư bản chủ nghĩa toàn trị, Đức và Nhật Bản, đã bị đập nát trong chiến tranh, và những nước này sau đó bị đe dọa bởi cường quốc Xô-viết, họ phải lao mình vào công cuộc tái cấu trúc toàn diện và dân chủ hóa. Hậu quà là, các nước nhỏ hơn đã lựa chọn chủ nghĩa tư bản thay cho chủ nghĩa cộng sản đã không tìm thấy một hình mẫu chính trị và kinh tế có tính chất đối lập nào để đi theo và không tay chơi quốc tế hùng mạnh nào để hướng tới ngoài phe dân chủ tự do. Công cuộc dân chủ hóa cuối cùng của các nước nhỏ và vừa này có lẽ có liên quan nhiều hơn tới ảnh hưởng bao trùm của  sự bá chủ của chủ nghĩa tự do hơn là với những tiến trình nội tại của chúng. Hiện thời Singapore là ví dụ duy nhất về một đất nước có một nền kinh tế thật sự phát triển nhưng vẫn duy trì một chế độ bán chuyên chế, và ngay cả điều đó cũng có vẻ như đang thay đổi dưới ảnh hưởng của trật tự dân chủ tự do mà Singapore tham gia. Song, liệu các cường quốc theo kiểu giống như Singapore có thể cưỡng lại ảnh hưởng của trật tự này hay không?

Câu hỏi này trở nên nóng do sự nổi lên gần đây của các cường quốc khổng lồ phi dân dân chủ, vượt lên trên tất cả là nước Trung Quốc tư bản chuyên chế và cựu cộng sản đang phát triển nhanh. Nước Nga cũng rút lui khỏi chủ nghĩa tự do thời hậu cộng sản và theo đuổi một thể chế ngày càng chuyên chế trong lúc ảnh hưởng kinh tế của nó tăng dần lên. Một số người tin rằng, các nước này cuối cùng rồi cũng trở thành các quốc gia dân chủ tự do thông qua việc kết hợp sự phát triển nội tại, phạm vi ảnh hưởng gia tăng và tác động từ bên ngoài. Ngược lại, các nước này cũng có thể có đủ sức nặng để tạo ra một Thế giới thứ Hai mới, phi dân chủ nhưng phát triển về kinh tế. Họ có thể thiết lập một trật tự tư bản chủ nghĩa chuyên chế hùng mạnh, liên kết giới tinh hoa chính trị, công nghiệp và quân sự; theo định hướng dân tộc chủ nghĩa, và tham gia vào nền kinh tế toàn cầu theo những điều khoản riêng của họ, giống như các đế quốc Đức và Nhật đã làm trước đây.

Đã có sự đồng thuận rộng rãi rằng sự phát triển kinh tế – xã hội tạo ra áp lực dân chủ hóa mà một cơ cấu nhà nước chuyên chế không thể kìm hãm nổi. Cũng đã có quan điểm cho rằng các “xã hội đóng kín” có khả năng vươn tới sự xuất sắc trong sản xuất công nghiệp đại trà nhưng không thể làm như vậy trong các giai đoạn tiên tiến hơn của nền kinh tế thông tin. Sự phán xét về những vấn đề này vẫn còn để ngỏ bởi vì bộ dữ liệu chưa hoàn chỉnh. Nước Đức đế quốc và phát xít đã vươn lên thành nền kinh tế hàng đầu của thời đó về độ tiên tiến của khoa học và công nghệ; nhưng một số người vẫn lập luận rằng thành công của các nền kinh tế như vậy không còn có thể áp dụng nữa vì nền kinh tế thông tin thì rất khác biệt. Nước Singapore phi dân chủ có một nền kinh tế thông tin thành công cao độ, nhưng Singapore chỉ là một thành quốc (city-state), không phải là một quốc gia cỡ lớn. Trung Quốc thì phải mất rất nhiều thời gian nữa trước khi đạt tới giai đoạn có thể thử nghiệm khả năng tồn tại của một nhà nước chuyên chế cùng với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa tiên tiến. Vào lúc này, tất cả những gì chúng ta có thể nói là trong lịch sử đã không có điều gì cho thấy rằng sự chuyển hóa các cường quốc tư bản chuyên chế hiện nay sang nền dân chủ là một tiến trình tất yếu, không tránh khỏi. Trong khi đó có nhiều dữ liệu cho thấy các cường quốc chuyên chế  hiện nay có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn hơn rất nhiều so với các chế độ cộng sản tiền bối.

Trung Quốc và Nga đại diện cho sự trở lại của các cường quốc tư bản chuyên chế thành công về mặt kinh tế. Các cường quốc kiểu này đã vắng bóng kể từ khi Nhật Bản và Đức bị đánh bại năm 1945. Nhưng Nga và Trung Quốc hiện thời lớn hơn rất nhiều so với Đức và Nhật thuở trước.

Mặc dù chỉ là một quốc gia cỡ trung lại bị kẹp giữa trung tâm châu Âu, Đức đã hai lần gần như phá vỡ giới hạn của mình để trở thành một cường quốc toàn cầu thật sự về sức mạnh quân sự và kinh tế. Năm 1941 Nhật Bản vẫn còn lẽo đẽo theo sau các đại cường trong lĩnh vực phát triển kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng của Nhật từ năm 1913 trở về sau luôn cao nhất thế giới. Tuy vậy, cuối cùng cả Đức và Nhật đều quá nhỏ bé – xét về phương diện dân số, tài nguyên và tiềm lực – để đương đầu với Hoa Kỳ.

Trái lại, nước Trung Quốc ngày hôm nay là tay chơi lớn nhất trong hệ thống quốc tế hiện hành, xét về phương diện dân số; đồng thời đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế rất ngoạn mục. Bằng việc chuyển hóa từ chủ nghĩa cộng sản sang chủ nghĩa tư bản, Trung Quốc cũng đồng thời chuyển sang một “thương hiệu” chủ nghĩa chuyên chế có hiệu quả hơn rất nhiều. Khi Trung Quốc thu hẹp nhanh chóng khoảng cách kinh tế với thế giới đã phát triển, khả năng Trung Quốc sẽ trở thành một siêu cường chuyên chế thật sự đang treo lơ lửng.

Ngay cả khi sự đồng thuận tự do kinh tế chính trị được khu trú trong các pháo đài hiện thời ở phương Tây thì nó vẫn dễ bị tổn thương bởi những biến cố không nhìn thấy trước được, chẳng hạn như một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện làm gián đoạn hệ thống thương mại toàn cầu hoặc sự trỗi dậy trở lại những xung đột sắc tộc ở một châu Âu ngày càng lâm vào rắc rối bởi sự di dân và các cộng đồng sắc tộc thiểu số. Nếu như phương Tây bị chấn động bởi một biến cố như thế thì sự ủng hộ chủ nghĩa dân chủ tự do ở châu Á, châu Mỹ Latin và châu Phi – nơi mà sự gắn bó với mô hình dân chủ tự do chỉ mới diễn ra gần đây, chưa hoàn chỉnh và không an toàn – có thể bị chao đảo. Khi ấy, một Thế giới thứ Hai phi dân chủ nhưng thành công có thể được nhiều nước coi là một sự thay thế hấp dẫn cho chủ nghĩa tự do

Làm cho thế giới an toàn hơn cho nền dân chủ

Mặc dù sự trỗi dậy của các đại cường tư bản chuyên chế không nhất thiết dẫn tới sự bá quyền phi dân chủ hoặc dẫn tới chiến tranh, song nó có hàm ý rằng sự thống thị gần như hoàn toàn của chủ nghĩa dân chủ tự do từ khi Liên bang Xô viết sụp đổ tới nay chỉ là một hiện tượng ngắn ngủi và một “nền hòa bình dân chủ” phổ quát vẫn còn rất xa vời. Các cường quốc tư bản chuyên chế mới có thể hội nhập vào kinh tế thế giới sâu như các đế quốc Đức và Nhật Bản đã làm, nhưng sẽ không chọn con đường tự cấp tự túc giống như nước Đức phát xít và khối cộng sản từng thực hiện trước kia. Một đại cường Trung Quốc có thể cũng ít xét lại hơn nước Đức và nước Nhật có lãnh thổ hạn chế (chỉ riêng nước Nga vẫn còn đang hậm hực vì để mất một đế quốc, giờ đây có xu hướng nghiêng về chủ nghĩa xét lại). Tuy vậy Bắc Kinh, Moscow và những quốc gia đi theo họ trong tương lai có thể vẫn theo đuổi những điều kiện trái ngược với các quốc gia dân chủ, có tiềm năng gây nên hoài nghi, bất an và xung đột trong khi vẫn duy trì nhiều sức mạnh so với các đối thủ mà các nền dân chủ từng đối mặt.

Như vậy có phải tiềm năng sức mạnh lớn lao hơn của chủ nghĩa tư bản chuyên chế có nghĩa là sự chuyển hóa các đại cường cộng sản cũ cuối cùng sẽ là một bước phát triển tiêu cực cho nền dân chủ toàn cầu? Hãy còn quá sớm để nói như vậy. Về mặt kinh tế, công cuộc tự do hóa các quốc gia cựu cộng sản đã đem lại cho kinh tế toàn cầu một lực đẩy to lớn và vẫn còn lực đẩy chưa được dùng đến. Nhưng cũng cần phải tính tới khả năng các quốc gia này sẽ chuyển hướng sang chủ nghĩa bảo hộ trong tương lai – và cần phải tránh để xảy ra điều đó. Cần lưu ý rằng, chính triển vọng về sự gia tăng bảo hộ mậu dịch trong nền kinh tế thế giới vào buổi giao thời của thế kỷ 20 và khuynh hướng bảo hộ chủ nghĩa vào thập niên 1930 của thế kỷ trước đã góp phần cấp tiến hóa các cường quốc tư bản phi dân chủ thời đó và khơi mào cho cả hai cuộc chiến tranh thế giới.

Về mặt tích cực cho chủ nghĩa dân chủ, sự sụp đổ của Liên xô đã tước của Moscow hơn một nửa nguồn tài nguyên mà nó thủ đắc trong thời Chiến tranh Lạnh; Đông Âu đã hội nhập vào một châu Âu dân chủ đã mở rộng ra rất nhiều. Có lẽ đây là sự thay đổi có ý nghĩa nhất trong cán cân quyền lực toàn cầu kể từ sau khi Đức và Nhật bị buộc phải tái định hướng sang chủ nghĩa dân chủ thời hậu chiến, dưới sự giám hộ của Hoa Kỳ. Hơn thế nữa, Trung Quốc cuối cùng cũng có thể dân chủ hóa và Nga có thể đảo ngược quá trình trôi dạt khỏi nền dân chủ. Nếu như Trung Quốc và Nga không trở thành các nền dân chủ thì điều thiết yếu sẽ là Ấn Độ vẫn duy trì thể chế dân chủ, vừa do vai trò chủ chốt của Ấn Độ trong việc cân bằng với Trung Quốc, vừa do Ấn Độ là hình mẫu đại diện cho thế giới đang phát triển.

Nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là Hoa Kỳ. Cho dù bị phê phán khắp nơi, Hoa Kỳ – và mối quan hệ liên minh với châu Âu – vẫn là niềm hy vọng quan trọng nhất và duy nhất cho tương lai của nền dân chủ tự do. Mặc dầu có những điểm yếu và những vấn đề của riêng mình, Hoa Kỳ vẫn thủ đắc một vị trí chỉ huy toàn cầu về sức mạnh và có thể duy trì vị trí đó ngay cả khi các cường quốc tư bản chuyên chế lớn mạnh lên. Hoa Kỳ không chỉ có tốc độ tăng tổng sản lượng và năng suất thuộc loại cao nhất thế giới đã phát triển mà với tư cách một quốc gia di dân có mật độ dân số chỉ bằng một phần tư so với Trung Quốc và Âu châu, một phần mười so với Ấn Độ và Nhật Bản, Hoa Kỳ vẫn còn có tiềm lực phát triển rất to lớn – cả về kinh tế và về phương diện dân số – trong khi các cường quốc khác đã bắt đầu đi vào giai đoạn lão hóa và suy giảm dân số.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc hiện cao nhất thế giới, song do quy mô dân số khổng lồ và vẫn còn trong giai đoạn phát triển tương đối thấp, sự tăng trưởng của Trung Quốc hàm chứa tiềm năng cấp tiến nhất cho sự thay đổi quan hệ cường quốc trên toàn cầu. Nhưng cho dù tốc độ tăng trưởng siêu việt của Trung Quốc còn kéo dài và GDP của nước này vượt qua Hoa Kỳ vào năm 2020 như nhiều người dự báo thì Trung Quốc vẫn chỉ giàu có bằng một phần ba so với Hoa Kỳ xét về thu nhập trên đầu người, và do vậy, có ít sức mạnh về kinh tế và quân sự. Để thu hẹp khoảng cách đầy thách thức đó với thế giới đã phát triển, Trung Quốc còn cần thêm vài thập niên nữa. Hơn thế nữa, GDP riêng rẽ thì chỉ là một thước đo tồi về sức  mạnh của một quốc gia và dựa vào GDP để ca ngợi uy thế của Trung Quốc là một điều cực kỳ sai lạc.

Cũng như trong suốt thế kỷ 20, yếu tố Hoa Kỳ vẫn là sự bảo đảm lớn nhất rằng chủ nghĩa dân chủ tự do sẽ không bị ném vào thế phòng thủ và không bị giáng cấp vào một vị trí dễ tổn thương ở bên lề của hệ quốc quốc tế.

Kinh tế Trung Quốc đi vào vùng bão

Quyết định của giới lãnh đạo Trung Quốc thay đổi mô hình kinh tế, từ dựa vào xuất khẩu và đầu tư sang dựa vào tiêu dùng nội địa, đã bắt đầu gặp những thách thức đầu tiên và nghiêm trọng khi tăng trưởng kinh tế giảm xuống, nợ xấu tăng lên, nhiều doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản và nạn thất nghiệp đe dọa.

Không đạt chỉ tiêu tăng trưởng

Phải đến ngày 15-7 Tổng cục Thống kê Trung Quốc mới công bố số liệu kinh tế quí 2-2013, nhưng 21 chuyên gia mà hãng Reuters phỏng vấn đều thống nhất nhận định, trong quí 2 tăng trưởng của nước này chỉ đạt tối đa 7,5% so với cùng kỳ năm ngoái, giảm 0,2 điểm phần trăm so với quí 1-2013 và là mức thấp nhất trong 23 năm qua. Nguyên nhân của sự suy giảm này là nhu cầu của thị trường nước ngoài giảm dẫn tới sụt giảm sản lượng và đầu tư.

Theo dự báo, hoạt động xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong tháng 6 sôi động hơn tháng 5-2013 song tốc độ tăng trưởng đã giảm rõ rệt: xuất khẩu tăng 4%, nhập khẩu tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi các năm trước luôn ở mức hai con số. Sản lượng công nghiệp tháng 6 chỉ tăng 9,1% so với cùng kỳ, giảm 0,1 điểm phần trăm so với tháng 5-2013.

Trong lĩnh vực tài chính, chủ trương siết chặt tín dụng của Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã khiến lãi suất liên ngân hàng tăng đột ngột hồi cuối tháng 6, đồng thời cung tiền ra thị trường cũng giảm xuống mức 15,2% so với mức 15,8% hồi tháng 5, gây sức ép lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Cũng theo các chuyên gia này, triển vọng từ nay đến cuối năm còn u ám hơn nữa nếu như hậu quả của cuộc khủng hoảng thanh khoản cuối tháng trước bắt đầu tác động đến nền kinh tế thực. Sau nhiều năm phát triển nóng nhờ dễ dàng vay vốn giá rẻ, giờ đây doanh nghiệp Trung Quốc phải đối mặt với một hậu quả không mấy dễ chịu: nhu cầu tiêu thụ giảm và nguồn tín dụng cạn kiệt. Có khả năng 2013 sẽ là năm đầu tiên Trung Quốc không đạt được tăng trưởng kinh tế 7,5% mà chính phủ nước này đề ra và dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế.

Nợ nần dai dẳng

Siết chặt tín dụng có thể làm suy giảm tăng trưởng kinh tế và đẩy nhiều doanh nghiệp tới chỗ phá sản nhưng Trung Quốc không có lựa chọn nào khác.

Năm 2008, khi khủng hoảng tài chính bùng nổ ở phương Tây, Chính phủ Trung Quốc đã tung ra gói kích cầu gần 600 tỉ đô la Mỹ, đồng thời chỉ đạo các ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay nhằm duy trì tăng trưởng. Trong 5 năm 2008-2012, dư nợ tín dụng hàng năm luôn tăng trên mức 30% GDP – mức cao nhất thế giới. Nếu như cuối năm 2008, tổng dư nợ tín dụng ở Trung Quốc chiếm chưa tới 118% GDP thì đến cuối năm 2012 con số này đã là 196% và hiện đã vượt qua 200% GDP, theo Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS.

Đáng chú ý là phần lớn tín dụng được đổ vào các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước và các công ty đầu tư của chính quyền các địa phương, gọi là LGIV (local government investment vehicles), nhằm đẩy mạnh đầu tư bất động sản và xây dựng các công trình hạ tầng với hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn rất thấp.

Để hình dung phần nào tình trạng nợ nần ở Trung Quốc, các chuyên gia thường xem xét hoạt động của các LGIV. Theo bình luận của bà Zhang Monan của Trung tâm thông tin Trung Quốc đăng trên Project-Syndicate, cuối năm 2011 các LGIV đã vay nợ khoảng 10.700 tỉ nhân dân tệ (NDT), tương đương 1.700 tỉ đô la Mỹ; trong đó vay ngân hàng khoảng 9.100 tỉ NDT; sang năm 2012, số nợ vay ngân hàng tăng lên 9.300 tỉ NDT và năm nay vẫn duy trì con số đó. Ngoài tín dụng ngân hàng, các LGIV còn vay nợ của các quỹ tín dụng và phát hành trái phiếu; riêng trong năm 2012 các khoản vay vốn ngoài ngân hàng này là 1.388 tỉ NDT. Bà Zhang cho biết thêm, tổng dư nợ của các hoạt động tín dụng ngoài ngân hàng, còn gọi là “tín dụng đen” (shadow banking) năm ngoái đã vào khoảng 5.900 tỉ NDT, tăng tới 400%, do người vay tiền muốn né tránh các quy định chặt chẽ của chính phủ trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.

Vay nhiều nhưng khả năng trả nợ của các chính quyền địa phương ngày càng giảm. Cũng theo bà Zhang Monan, sau khi Trung Quốc cải tổ luật thuế năm 1994, phần ngân sách phân bổ cho chính quyền địa phương đã giảm từ 78% tổng thu ngân sách năm 1993 xuống còn 52% năm 2011 trong khi chi tiêu công của chính quyền địa phương lại tăng từ mức 72% lên 85% tổng chi ngân sách cùng thời kỳ.

Khối nợ khổng lồ trong các LGIV và khả năng trả nợ chập chờn là “rủi ro lớn nhất” ở Trung Quốc. “Sự gia tăng các trường hợp phá sản có thể làm mất ổn định toàn bộ hệ thống tài chính và kích hoạt đà lao dốc của tăng trưởng kinh tế”, bà Zhang viết.

Image

Các nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc – đặc biệt là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường – đã nhận ra nguy cơ mà tín dụng lỏng lẻo và đầu tư tràn lan gây ra cho nền kinh tế và dường như đã quyết tâm thay đổi hiện trạng. Vấn đề là khi nào và bằng cách nào Trung Quốc có thể đưa nền kinh tế ra khỏi căn bệnh mãn tính là nghiện tín dụng và đầu tư?

Giáo sư Minxin Pei của Đại học Claremont McKenna College đề ra hai kịch bản. Một là, kinh tế Trung Quốc sẽ “hạ cánh mềm” nếu chính phủ áp dụng các biện pháp đặc thù để làm giảm tăng trưởng tín dụng – nhất là các kênh tín dụng đen, buộc phá sản các doanh nghiệp kém hiệu quả và bơm tiền vào ngân hàng để ngăn hệ thống khỏi lung lay. Hai là, Chính phủ Trung Quốc không vượt qua được sự ngăn trở của các nhóm lợi ích (chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước, công ty bất động sản…) và tín dụng, đầu tư tiếp tục được thả lỏng cho đến khi bùng nổ một sự kiện chấn động giống như vụ sụp đổ Ngân hàng Lehman Brothers ở Mỹ năm 2008. Khi ấy, tăng trưởng kinh tế sẽ bị đảo ngược, doanh nghiệp vay nợ sẽ phá sản và hệ thống tài chính sụp đổ. Dù đi theo kịch bản nào, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ suy giảm.

Một số chuyên gia khác nhận định, đã có dấu hiệu cho thấy lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc chấp nhận suy giảm tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn để đẩy mạnh cải tổ cơ cấu kinh tế nhắm đến những mục tiêu dài hạn là tăng trưởng cân bằng và bền vững hơn. Sự kiện Ngân hàng trung ương Trung Quốc “án binh bất động” bất chấp những lời cầu xin “bơm tiền cứu thanh khoản” của hệ thống ngân hàng thương mại hồi cuối tháng 6 vừa qua là một dấu hiệu như vậy. Tuy nhiên, theo giáo sư kinh tế Zhang Jun, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế của Đại học Fudan Thượng Hải, cái “ngưỡng” chấp nhận được là tăng trưởng 7%/năm; Chính phủ Trung Quốc sẽ không ra tay “kích cầu”, nhưng nếu như kinh tế suy giảm mạnh, tình trạng doanh nghiệp phá sản và người lao động thất nghiệp lan tràn dẫn tới bất ổn xã hội thì mọi chuyện có thể thay đổi.

“Vinashin của Trung Quốc”

Thứ Sáu tuần trước, tập đoàn đóng tàu Rongsheng ở tỉnh Giang Tô đã kêu gọi hỗ trợ tài chính để tập đoàn tiếp tục hoạt động; đặt Chính phủ Trung Quốc trước một lựa chọn khó khăn: bỏ tiền ra cứu hay để mặc cho Rongsheng phá sản.

Rongsheng Heavy Industries là con chim đầu đàn của ngành đóng tàu Trung Quốc, sử dụng tới 20.000 lao động và hiện thực hóa giấc mơ của Trung Quốc trở thành cường quốc đóng tàu hàng đầu thế giới vào năm 2015. Thực hiện giấc mơ này, đến năm 2012 Trung Quốc đã có 1.647 nhà máy đóng tàu, nhiều gấp trăm lần so với con số 10 nhà máy ở Hàn Quốc và 15 nhà máy ở Nhật Bản; trong đó Rongsheng là doanh nghiệp lớn nhất.

Nhu cầu đóng tàu của thế giới giảm mạnh sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 là một trong những nguyên nhân làm cho các nhà máy đóng tàu cỡ lớn như Rongsheng “chìm xuồng”. Mặc dù được nhà nước Trung Quốc hào phóng tài trợ (830 triệu NDT năm 2010, 1,25 tỉ NDT năm 2011 và 1,3 tỉ NDT năm 2012) nhưng cũng như các nhà máy đóng tàu khác, Rongsheng liên tục thua lỗ: năm 2012 lỗ ròng 572,6 triệu NDT (94 triệu đô la Mỹ) và nợ thuế 168 triệu NDT; giá trị sản lượng cả năm của nhà máy chỉ đạt 55,6 triệu đô la, cách xa mục tiêu 1,8 tỉ đô la đề ra trong kế hoạch kinh doanh.

Sáu tháng đầu năm nay Rongsheng tiếp tục thua lỗ đậm mặc dù Chính phủ Trung Quốc đã ra sức hỗ trợ ngành đóng tàu bằng cách cấp tín dụng 3 tỉ đô la Mỹ cho các công ty vận tải mua tàu mới, hỗ trợ 20% chi phí cho việc phá dỡ trước hạn những con tàu có tuổi đời từ 15 năm trở lên.

Được biết, trong khi chờ đợi quyết định của Chính phủ Trung Quốc, tập đoàn này đã thông báo cho thôi việc 8.000 lao động để cắt giảm chi phí.

Ảnh: Nhà máy đóng tàu Rongsheng lớn nhất Trung Quốc đang trên bờ vực phá sản vì thua lỗ do đầu tư quá lớn.

(Bài đăng TBKTSG số 28-2013, ngày 11-7-2013)